Chương 1. Giới thiệu đề tài Luận văn Kinh tế Trong chương này tác giả sẽ tóm lược về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm Chương này sẽ trình bày khái niệm, lý thuyết liên quan và các bằng chứng thực nghiệm từ những nghiên cứu trước về ưu khuyết điểm của công ty quan hệ chính trị và sự tác động của yếu tố kết nối chính trị đến yếu tố khả năng sinh lời. Phương pháp nghiên cứu Nội dung chính của chương này tác giả sẽ trình bày về cơ sở dữ liệu và phương pháp thực hiện nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả nghiên cứu về tác động của quan hệ chính trị đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam, cụ thể là các doanh nghiệp phi tài chính hiện niêm yết. Đồng thời, thảo luận về kết quả hồi quy đạt được giống hay khác so với những nghiên cứu trước đã đưa ra. Kết luận Trình bày kết luận nghiên cứu của đề tài thực hiện dựa trên lý thuyết, giả thuyết và các nghiên cứu trước đó. Ngoài ra, đưa ra các khuyến nghị, chính sách cho nhà đầu tư và nhà quản lý cũng như nêu lên những hạn chế mà nghiên cứu gặp phải để các bài nghiên cứu sau hoàn thiện hơn.
Luận văn Kinh tế 6 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Khả năng sinh lời của doanh nghiệp Khả năng sinh lời là một loại chỉ số tài chính được sử dụng để đánh giá khả năng của một doanh nghiệp trong việc tạo ra thu nhập trong một thời gian nhất định trên cơ sở chi phí bỏ ra. Khả năng sinh lời có thể được định nghĩa là thước đo cuối cùng của sự thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Sự thành công này được xác định bởi tầm quan trọng của lợi nhuận thuần kế toán (Pimentel và cộng sự, 2005). Dựa vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp, các nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư của mình. Khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng hiệu quả tài sản và nguồn lực của Luận văn Kinh tế doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu kinh tế. Thông qua đánh giá khả năng sinh lời, doanh nghiệp biết được điểm mạnh cần phát huy và hạn chế điểm yếu, từ đó doanh nghiệp đưa ra biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu suất hoạt động.
Vì vậy, khả năng sinh lời được sử dụng phổ biến như thước đo hiệu quả tài chính của một công ty cũng như là thước đo tương đối hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, phân tích tỷ số tài chính là một trong những thước đo phổ biến đối với nhà quản trị. Doanh nghiệp phân tích các chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng nguồn lực đầu vào so với kết quả kinh doanh đạt được như: Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng tốt.
Lợi nhuận sau thuế Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) = Tổng tài sản 7 ROA cho thấy doanh nghiệp với số tài sản lớn hơn sẽ có thể kiếm được mức thu nhập cao hơn và đo lường khả năng quản lý tạo ra lợi nhuận dựa vào nguồn lực của công ty. Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường. Tỷ số này biểu hiện mức độ sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông. Lợi nhuận sau thuế Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) = Vốn chủ sở hữu Dựa vào phân tích Dupont, phương trình mở rộng thể hiện sự phụ thuộc của khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) vào khả năng sinh lời của doanh thu, số vòng quay tổng tài sản và tỷ lệ nợ.
ROE = Luận Doanh thu thuần văn Lợi nhuận sau thuế x Kinh Doanh thu thuần Tổng tài sản tếx Tổng tài sản Tổng tài sản – Nợ Chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng là xác định mục tiêu kinh doanh tối đa hoá lợi nhuận hay tối đa hoá quy mô. Tỷ số này càng cao cho thấy lợi nhuận cao và ít sử dụng nợ. Nếu doanh nghiệp đang thua lỗ, lợi nhuận sau thuế âm thì sử dụng nợ sẽ làm tăng sự thua lỗ của doanh nghiệp. Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS) cho biết với một đồng doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ số càng lớn thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao. Lợi nhuận sau thuế Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS) = Doanh thu Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Khi theo dõi tình hình sinh lợi của doanh nghiệp, tỷ số này thường được so sánh với tỷ số bình quân của toàn ngành. Quan hệ chính trị Một số bài nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa cũng như cách thức đo lường mối quan hệ chính trị.
Theo Faccio và cộng sự (2006), khi một hoặc nhiều thành viên cấp cao (chủ tịch hội đồng quản trị, phó chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc điều hành hay thư ký hội đồng quản trị) hoặc cổ đông lớn (cổ đông có quyền biểu quyết hoặc kiểm soát từ 10% cổ phần) của một doanh nghiệp là tổng thống, thủ tướng, một bộ trưởng trong cơ quan Chính phủ hoặc thành viên Quốc hội thì doanh nghiệp này được xem là doanh nghiệp có kết nối chính trị. Nghiên cứu của Boubakri và cộng sự (2008) cũng đưa ra quan niệm về doanh nghiệp quan hệ chính trị khi hội đồng quản trị hay ban giám đốc của doanh nghiệp có một cựu chính trị gia hoặc một chính trị gia. Trong khi đó, Wong (2010) xác định công ty có mối quan hệ chính trị là công ty có các bên liên quan đồng thời nắm giữ một vị trí trong Ủy ban bầu cử, cơ quan lập hiến bầu ra giám đốc điều hành của thành phố. Thêm một cách đo lường mối quan Luận văn Kinh tế hệ chính trị của Wang, Dao và Kang (2018), bài nghiên cứu này sử dụng lượt truy cập vào trang web của quan chức Chính phủ như một phép đo lường kết nối chính trị của doanh nghiệp.
Lý thuyết thể chế Theo lý thuyết thể chế, các thể chế hỗ trợ cho hoạt động hiệu quả của cơ chế thị trường (North, 1990) và khi các thể chế chính thức thất bại, các cơ chế quản trị không chính thức như quan hệ xã hội, đóng vai trò thay thế để tạo thuận lợi cho hoạt động kinh tế (Peng, 2003). Lý thuyết thể chế cũng dự đoán rằng quan hệ xã hội đóng vai trò là một hình thức quản trị quan trọng trong các giai đoạn chuyển đổi sớm ở các nền kinh tế mới nổi, trong đó các thể chế hỗ trợ cho thị trường. Khi các nền kinh tế mới nổi có định hướng thị trường hơn và các thể chế hỗ trợ thị trường được phát triển tốt hơn, doanh nghiệp sẽ ít dựa vào mối quan hệ xã hội để điều phối hoạt động (North, 2005; Peng, 2003). Quan điểm này cho thấy tác động của quan hệ xã hội phụ thuộc vào bối cảnh thể chế.
9 Khi khuôn khổ thể chế pháp lý không áp dụng các hình phạt hiệu quả, các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp hoặc không công bằng (ví dụ: quảng cáo sai, vi phạm bản quyền, vi phạm hợp đồng, giả mạo) chiếm ưu thế trên thị trường và phá vỡ trật tự kinh tế (Ho, 2001). Với các thể chế pháp lý không đầy đủ, doanh nghiệp cảm thấy khó khăn hoặc tốn kém khi tuân theo quy trình pháp lý thông thường để có được sự bảo vệ chống lại các hành vi đó (McMillan và Woodruff, 1999). Trong tình huống như vậy, quan hệ chính trị cung cấp một cơ chế thực thi thông qua sự tăng cường tính hợp pháp và chính trị. Với việc kết nối chính trị mạnh mẽ, nhà quản lý có thể nhờ vào quan chức Chính phủ để thực hiện hợp đồng kinh doanh hoặc ngăn chặn hành vi trái pháp luật.
Khi các biện pháp thực thi pháp lý không hiệu quả, doanh nghiệp có mối liên hệ chính trị chặt chẽ có thể khai thác sức mạnh của mối liên hệ này và sự tham gia của Chính phủ vào các sự cố này để giải quyết hiệu quả hơn quy trình pháp lý (Ambler và Witzel, 2004). Hơn nữa, việc thực thi không hiệu quả làm gia tăng đáng kể chi phí của hành động pháp lý chống lại các hành vi bất hợp pháp Luận văn Kinh tế (Johnson, McMillan và Woodruff, 2002), khiến quan hệ chính trị trở nên quan trọng hơn trong việc hỗ trợ các giao dịch và ngăn chặn cạnh tranh bất hợp pháp. Các nghiên cứu thực nghiệm Công ty quan hệ chính trị có nhiều ưu đãi và thuận lợi hơn doanh nghiệp không có kết nối chính trị. Faccio và cộng sự (2006) đưa ra bằng chứng rằng cơ hội nhận được sự cứu trợ của doanh nghiệp có kết nối lớn hơn doanh nghiệp không có kết nối khi công ty khó khăn về tài chính.
Hơn nữa, Boubakri và cộng sự (2012) cho rằng nhà đầu tư yêu cầu một chi phí sử dụng vốn thấp hơn đối với các doanh nghiệp có kết nối, do họ tin các doanh nghiệp này ít rủi ro hơn so với doanh nghiệp không có kết nối. Dinc (2005), Cull và Xu (2005), và Khwaja và Mian (2005) cho thấy các ưu đãi tín dụng thường dành cho các công ty tư nhân kết nối chính trị, trong khi Faccio và cộng sự (2006) cho thấy, bất cứ khi nào cần, họ cũng có thể tin tưởng vào Chính phủ để bảo lãnh cho họ. Cùng quan điểm, Faccio (2006a) báo cáo rằng khi các nhà quản lý đảm nhận các vị trí chính trị hàng đầu sẽ cải thiện giá trị của doanh nghiệp 10 và Faccio (2006b) chứng minh đòn bẩy cao hơn, thị phần lớn hơn và thuế suất thấp hơn cho các công ty kết nối chính trị so với các công ty không kết nối. Các nghiên cứu ở một quốc gia cũng phát hiện ra rằng các kết nối chính trị có liên quan đến giá trị doanh nghiệp (Fisman, 2001; Ramalho, 2003; Ferguson và Voth, 2006).
Ngược lại, quan hệ chính trị có thể gây bất lợi cho doanh nghiệp. Boubakri và cộng sự (2008) nghiên cứu về công ty tư nhân hoá mới, minh họa rằng không có động lực thúc đẩy nhà quản lý của doanh nghiệp kết nối tối đa hóa giá trị cho cổ đông và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.