Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo môi trường quốc gia, khoảng 70% trong tổng số hơn 1.000.000 m3 nước thải phát sinh mỗi ngày từ các khu công nghiệp tại Việt Nam được xả thẳng ra nguồn tiếp nhận tự nhiên mà chưa qua xử lý đạt chuẩn. Thực trạng này tạo sức ép nặng nề lên các lưu vực sông trọng điểm, đặc biệt tại khu vực Đồng bằng sông Hồng với tỉnh Bắc Ninh – nơi có tổng lượng nước thải công nghiệp ước tính đạt 38.946 m3/ngày đêm. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của đề tài là giải quyết mâu thuẫn gay gắt giữa tốc độ công nghiệp hóa nhanh chóng và yêu cầu bảo đảm an ninh nguồn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm sáng tỏ cơ chế tác động, lan truyền các chất ô nhiễm từ nguồn thải công nghiệp đến hệ thống sông ngòi nội đồng, đồng thời ứng dụng mô hình toán để mô phỏng diễn biến chất lượng nước và đề xuất các giải pháp kiểm soát ô nhiễm khả thi. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung vào Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải thuộc Khu vực Nam Đuống với tổng diện tích tự nhiên 32.472 ha, bao gồm 3 huyện Thuận Thành, Gia Bình và Lương Tài của tỉnh Bắc Ninh. Phạm vi thời gian bao quát chuỗi dữ liệu thủy văn, khí tượng và hiện trạng xả thải kéo dài 14 năm, từ năm 2000 đến năm 2013. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa các chỉ số suy thoái môi trường nước, hỗ trợ trực tiếp cho công tác bảo vệ hơn 20.604 ha đất nông nghiệp và 16.000 ha đất lúa màu, giảm thiểu nguy cơ tích tụ độc chất trong chuỗi nông sản địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng khung lý thuyết mô hình hóa thủy văn lưu vực và lan truyền chất ô nhiễm trong môi trường nước mặt. Trọng tâm của nghiên cứu là mô hình SWAT (Soil and Water Assessment Tool) do Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ phát triển. Mô hình tích hợp các phương trình cân bằng nước tổng thể, mô hình xói mòn sửa đổi MUSLE và thuật toán tính toán dòng chảy mặt theo phương pháp đường cong biểu diễn dòng chảy kết hợp quá trình thấm bão hòa và dòng chảy ngầm nông. Bên cạnh đó, mô hình chất lượng nước sông QUAL2E được tích hợp bên trong công cụ để mô phỏng quá trình chuyển hóa động học của các hợp chất dinh dưỡng gồm Tổng Nitơ, Amoni, Nitrit và Phốt pho hòa tan trong các đoạn sông và kênh tưới tiêu. Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) đóng vai trò khung phân tích không gian, ứng dụng mô hình dữ liệu Raster từ bản đồ độ cao kỹ thuật số DEM kích thước 90x90m kết hợp dữ liệu thuộc tính Vector về mạng lưới thủy văn và địa giới hành chính. Bốn khái niệm chuyên ngành cốt lõi xuyên suốt đề tài bao gồm: Đơn vị Phản ứng Thủy văn (HRU), Thực hành Quản lý Tốt nhất (BMPs) đối với nguồn thải phân tán và tập trung, Tải lượng ô nhiễm tích lũy, và Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt theo Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 08:2008/BTNMT cùng Quy chuẩn nước thải công nghiệp QCVN 24:2009/BTNMT.

Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ nguồn dữ liệu thực nghiệm và tài liệu chuyên ngành phong phú. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm chuỗi quan trắc khí tượng thủy văn hàng ngày liên tục trong 14 năm (2000-2013) tại 7 trạm đo khí tượng đại diện trong vùng và khu vực lân cận gồm Bắc Ninh, Thuận Thành, Gia Lương, Hà Nội, Hải Dương, Bắc Giang và Vĩnh Phúc, kết hợp dữ liệu lưu lượng và mực nước từ các trạm thủy văn chính trên sông Đuống, sông Thái Bình và sông Cầu như Thượng Cát, Bến Hồ, Phả Lại với lưu lượng khai thác nước mặt nội địa đạt 112 triệu m3/năm tại Nam Đuống. Phương pháp chọn mẫu dữ liệu chất lượng nước được thực hiện theo nguyên tắc phân tầng không gian và chọn mẫu điển hình tại các điểm xả thải then chốt của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề trên 3 tiểu lưu vực thủy lợi chính của vùng Nam Đuống. Phương pháp phân tích chủ đạo là sự kết hợp giữa kỹ thuật trích xuất, xử lý không gian trên nền tảng phần mềm ArcGIS và mô phỏng tải lượng ô nhiễm thông qua công cụ ArcSWAT. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ khả năng mô phỏng liên tục các quá trình thủy văn phức tạp trên lưu vực rộng lớn 32.472 ha mà không đòi hỏi mạng lưới trạm đo dày đặc trong lòng nội đồng, đồng thời cho phép dự báo định lượng kịch bản giảm thiểu ô nhiễm khi thay đổi các thông số đầu vào quản lý một cách khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra rằng tốc độ gia tăng lưu lượng nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh tăng nhanh, đóng góp 38.946 m3/ngày đêm vào tổng tải lượng vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tải lượng các chất ô nhiễm chính xả ra môi trường mỗi ngày lên tới 12.424 kg COD, 8.568 kg chất rắn lơ lửng TSS, 5.336 kg BOD5, 2.259 kg Tổng Nitơ và 3.116 kg Tổng Phốt pho. Tại nhiều điểm xả của khu công nghiệp chưa hoàn thiện hệ thống xử lý, hàm lượng Coliform và TSS vượt quy chuẩn môi trường từ 2 đến trên 10 lần.

Thứ hai, kết quả mô phỏng trên 3 tiểu lưu vực cho thấy mức độ ô nhiễm phân hóa sâu sắc theo không gian và thời gian. Nồng độ Amoni và Nitrit trên các trục sông tưới tiêu nội địa như sông Dâu - Lang Tài và sông Đông Côi - Ngụ tăng vọt trong các tháng mùa khô từ tháng 1 đến tháng 3, cao hơn từ 45% đến 60% so với mùa mưa. Đây là thời điểm trùng khớp với vụ sản xuất chiêm xuân, khi lượng nước khai thác đạt mức cao điểm gấp 2 lần vụ mùa, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước cấp phục vụ 16.000 ha lúa màu.

Thứ ba, thực trạng kiểm soát ô nhiễm tại nguồn còn tồn tại lỗ hổng lớn khi chỉ có khoảng 43% số khu công nghiệp đang hoạt động có trạm xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn, dẫn đến hơn 50% lượng nước thải công nghiệp hòa lẫn vào nước thải sinh hoạt và xả thẳng vào các kênh tưới tiêu kết hợp của hệ thống Nam Đuống.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của tình trạng suy thoái chất lượng nước mặt bắt nguồn từ sự phát triển công nghiệp nhanh chóng không đi đôi với tiến độ hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật môi trường. Bên cạnh đó, đặc điểm khí hậu với mùa mưa chiếm tới 70% tổng lượng mưa cả năm (từ 1.219 mm đến 2.054 mm) khiến dòng chảy tự nhiên trong mùa khô bị suy kiệt, làm giảm đáng kể khả năng tự làm sạch và pha loãng chất ô nhiễm của các dòng sông nội địa.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế của các nhà khoa học gần đây tại lưu vực sông Kielstau (Cộng hòa Liên bang Đức) và các ứng dụng mô hình số tại Việt Nam trên lưu vực sông Sê San (với hệ số hiệu quả Nash-Sutcliffe đạt từ 0,73 đến 0,76), kết quả mô phỏng bằng công cụ ArcSWAT trong luận văn cho thấy sự tương thích cao về quy luật tích tụ các hợp chất chứa Nitơ và Phốt pho từ nguồn thải điểm.

Để biểu đạt trực quan các kết quả phân tích phức tạp, số liệu mô phỏng trong luận văn có thể được trình bày thông qua biểu đồ đường đa trục phản ánh diễn biến nồng độ Amoni và Nitrit theo 12 tháng trong năm, kết hợp với bảng đối chiếu nồng độ các chất ô nhiễm trước và sau khi xử lý qua các trạm tập trung. Ngoài ra, việc xây dựng các bản đồ chuyên đề raster phân vùng mức độ ô nhiễm trên 3 tiểu lưu vực giúp các nhà quản lý dễ dàng nhận diện các điểm nóng suy thoái dọc theo các nhánh sông Bùi và sông Đồng Khởi.

Đề xuất và khuyến nghị

Để phục hồi và bảo vệ chất lượng nguồn nước trong hệ thống thủy nông Nam Đuống, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi:

Một là, đẩy nhanh tiến độ đầu tư và nâng cấp 100% hệ thống xử lý nước thải tập trung tại tất cả các khu và cụm công nghiệp trên địa bàn 3 huyện Nam Đuống, đặt mục tiêu cắt giảm từ 75% đến 80% tải lượng chất hữu cơ COD và Tổng Nitơ trước khi xả ra môi trường trong giai đoạn từ nay đến năm 2020. Chủ thể thực hiện là Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh phối hợp cùng các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng.

Hai là, triển khai xây dựng các hệ sinh thái đất ngập nước nhân tạo và trạm xử lý phân tán tại các điểm hợp lưu của sông Dâu - Lang Tài và sông Đông Côi - Ngụ, nhằm hấp thụ và chuyển hóa sinh học các chất dinh dưỡng dư thừa, hướng tới mục tiêu giảm thêm 40% nồng độ Amoni trong dòng chảy tưới tiêu đến năm 2022. Chủ thể chủ trì là Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Ba là, thiết lập mạng lưới quan trắc tự động liên tục và ứng dụng hệ thống cảnh báo sớm tích hợp công nghệ GIS và mô hình ArcSWAT tại 10 điểm xả thải trọng điểm, cho phép theo dõi trực tuyến 24/7 các thông số pH, DO, TSS và COD từ năm 2017. Chủ thể triển khai là Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Bắc Ninh.

Bốn là, tối ưu hóa quy trình vận hành liên hồ chứa và hệ thống 71 trạm bơm với 649 máy bơm trên toàn tỉnh, ưu tiên bơm tiếp nước pha loãng từ sông Đuống và xả tiêu qua trạm Kênh Vàng 2, Văn Thai ra sông Thái Bình để tạo dòng chảy động lực trong mùa khô cho 32.472 ha diện tích tự nhiên. Chủ thể thực hiện là Công ty TNHH Một thành viên Khai thác Công trình Thủy lợi Nam Đuống.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn phong phú cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý môi trường tại các Sở, Ban ngành địa phương: Sử dụng các kịch bản mô phỏng tải lượng phát thải để xây dựng quy hoạch phân vùng bảo vệ nguồn nước và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án công nghiệp mới.

Thứ hai, kỹ sư và chuyên viên quản lý vận hành công trình thủy lợi: Ứng dụng mô hình thủy lực và chất lượng nước để điều chỉnh linh hoạt lịch đóng mở cống, điều tiết hệ thống 71 trạm bơm tưới tiêu, bảo đảm cấp nước an toàn cho 20.604 ha đất nông nghiệp.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học thuộc chuyên ngành Kỹ thuật Tài nguyên nước, Môi trường và Cấp thoát nước: Tham khảo quy trình tích hợp giữa mô hình số ArcSWAT và hệ thống GIS để xử lý chuỗi số liệu khí tượng thủy văn 14 năm trong các nghiên cứu lưu vực tương đồng.

Thứ tư, các đơn vị tư vấn kỹ thuật và doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp: Sử dụng số liệu đặc trưng dòng thải của từng ngành công nghiệp làm căn cứ lựa chọn quy chuẩn công nghệ xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn xả thải ra môi trường tiếp nhận.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình SWAT có ưu điểm gì nổi bật khi ứng dụng đánh giá chất lượng nước hệ thống Nam Đuống? Mô hình SWAT được phát triển bởi Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, có ưu thế vượt trội trong việc mô phỏng quá trình thủy văn và lan truyền chất ô nhiễm trên lưu vực rộng lớn 32.472 ha mà không cần mạng lưới trạm đo dày đặc. Nhờ tích hợp mô hình chất lượng nước QUAL2E và xử lý dữ liệu địa hình DEM 90x90m, SWAT cho phép định lượng chính xác tải lượng các chất dinh dưỡng theo thời gian.

Nước thải công nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp tại Nam Đuống như thế nào? Toàn tỉnh phát sinh khoảng 38.946 m3 nước thải công nghiệp mỗi ngày xả trực tiếp vào hệ thống kênh mương tưới tiêu. Lượng thải này làm gia tăng nồng độ Amoni và chất hữu cơ trong mùa khô, đe dọa trực tiếp năng suất của 16.000 ha lúa màu trong thời điểm đổ ải khi nhu cầu khai thác nước tưới tăng gấp 2 lần bình thường.

Nguồn dữ liệu quan trắc nào đóng vai trò kiểm định độ tin cậy của mô hình trong nghiên cứu? Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu khí tượng thủy văn chi tiết trong 14 năm liên tục (2000-2013) từ 7 trạm quan trắc khí tượng và các trạm đo lưu lượng trên sông Đuống, sông Thái Bình như trạm Thượng Cát, Bến Hồ, Phả Lại. Đây là cơ sở khoa học vững chắc giúp hiệu chỉnh các thông số dòng chảy và tải lượng ô nhiễm.

Giải pháp kỹ thuật nào giúp giảm thiểu ô nhiễm nước mặt hiệu quả nhất theo kết quả mô phỏng? Giải pháp tối ưu là xây dựng đồng bộ các trạm xử lý nước thải tập trung tại 100% khu công nghiệp kết hợp vùng đất ngập nước xử lý sinh học. Kết quả mô phỏng chỉ ra biện pháp này giúp cắt giảm từ 75% đến 80% tải lượng Tổng Nitơ và COD, đưa chất lượng nước đạt chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT.

Phương pháp luận của luận văn có thể áp dụng cho các lưu vực thủy lợi khác tại Việt Nam không? Phương pháp luận hoàn toàn có thể nhân rộng nhờ tính linh hoạt của mô hình ArcSWAT. Các nghiên cứu trước đây trên lưu vực sông Sê San hay sông Chảy đã ghi nhận chỉ số Nash-Sutcliffe đạt từ 0,73 đến 0,81, khẳng định tính đúng đắn khi ứng dụng mô hình số trong quản lý tài nguyên nước mặt tại các lưu vực khác.

Kết luận

Tổng kết toàn bộ công trình nghiên cứu, luận văn đã đạt được những đóng góp nổi bật sau:

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước và tải lượng 38.946 m3 nước thải công nghiệp mỗi ngày trên lưu vực Nam Đuống diện tích 32.472 ha.
  • Ứng dụng thành công công nghệ GIS kết hợp mô hình ArcSWAT để làm sáng tỏ cơ chế vận chuyển các hợp chất Tổng Nitơ, Amoni và COD giai đoạn 2000-2013.
  • Nhận diện các điểm nóng ô nhiễm phân hóa theo mùa trên 3 tiểu lưu vực, đặc biệt trong các tháng mùa khô phục vụ vụ chiêm xuân.
  • Chỉ ra hạn chế lớn khi mới có khoảng 43% khu công nghiệp hoàn thiện trạm xử lý nước thải tập trung.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và quản lý vận hành 71 trạm bơm nhằm bảo vệ nguồn nước cho hơn 20.604 ha đất nông nghiệp.

Về kế hoạch tiếp theo, nghiên cứu cần được tiếp tục mở rộng để cập nhật chuỗi số liệu sau năm 2014 và tích hợp thêm các chỉ tiêu kim loại nặng trong mô phỏng. Đây là tài liệu tham khảo giá trị kêu gọi các cơ quan ban ngành tăng cường áp dụng mô hình toán học trong quản trị môi trường nước lưu vực bền vững.