CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Inna Sousa Paiva, Isabel Costa Lourenco, Manuel Castelo Branco, “Earnings management in family firms: current state of knowledge and opportunities for future research”, Review of Accounting and Finance (2016). Bằng phương pháp định tính, tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu trước đây để đưa ra các đặc điểm của công ty gia đình, QTLN trong các công ty gia đình nhằm mục đích thúc đẩy và tạo điều kiện nghiên cứu trong tương lai. Tác giả xem xét ba thước đo để nắm bắt các khía cạnh khác nhau của QTLN: Các khoản dồn tích bất thường, chất lượng dồn tích và việc che giấu các khoản lợi nhuận.
Trong khi hai chỉ số đo lường đầu tiên đo lường sự minh bạch của thông tin về lợi nhuận thì chỉ số thứ ba cho thấy các biện pháp quản lý đối với các khoản thu nhập được báo cáo. Bài báo đã đề cập nghiên cứu về QTLN trong các công ty gia đình bằng cách xác định các khuôn khổ lý thuyết chính được sử dụng. Các nghiên cứu trước đây kiểm tra mức độ QTLN chủ yếu tập trung vào các công ty lớn nhất ở Mỹ và châu Âu và họ thấy rằng các công ty gia đình có liên quan đến mức QTLN thấp hơn. Ngược lại, các nghiên cứu thực nghiệm dựa trên các công ty từ Trung Quốc và Đài Loan cho thấy rằng quyền sở hữu gia đình gắn liền với việc QTLN cao hơn.
Sự khác biệt về mức độ tập trung quyền sở hữu và môi trường thể chế của các nước có thể giải thích cho sự đa dạng trong các phát hiện này. Như vậy, bài báo đã nghiên cứu về QTLN trong các công ty gia đình bằng cách sử dụng các khuôn khổ lý thuyết và các nghiên cứu trước đây. Tác giả chưa đưa ra các bằng chứng thực nghiệm chứng minh cho các kết luận đưa ra. Đồng thời, tác giả chưa đề cập đến các khía cạnh thể chế có liên quan như thế nào đến thực tiễn QTLN trong các công ty gia đình.
123doc 8 Bikki Jaggi, Sidney Leung, Ferdinand Gul, “Family control, board independence and earnings management: Evidence based on Hong Kong firms”, Journal of Accounting and Public Policy (2009). Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng biến HĐQT độc lập và biến tích hợp giữa HĐQT độc lập và kiểm soát gia đình là hai biến độc lập chính. Tác giả sử dụng mô hình Kothari et al. (2005) để nhận diện, đo lường Biến phụ thuộc - Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được.
Kết quả cho thấy HĐQT độc lập có mối quan hệ nghịch biến với hành vi QTLN. Tuy nhiên, hiệu quả giám sát của các giám đốc độc lập không điều hành giảm xuống trong các công ty kiểm soát gia đình, do sự tập trung quyền sở hữu gia đình hoặc do sự có mặt của các thành viên trong gia đình với tư cách là thành viên HĐQT. Điều này cho thấy sự gia tăng tỷ lệ các giám đốc bên ngoài để tăng sự giám sát của HĐQT là không hiệu quả trong các công ty gia đình. Bài báo đã đánh giá sự liên quan giữa tính độc lập của HĐQT và QTLN tại các công ty Hồng Kông.
Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu việc kiểm soát gia đình có ảnh hưởng đến sự kết hợp giữa thành phần HĐQT độc lập và chất lượng lợi nhuận. Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa đề cập đến mối quan hệ giữa kiểm soát gia đình và hành vi QTLN. Đặc biệt, nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 1998-2000, tác giả đưa ra kết luận kết quả có thể bị ảnh hưởng bởi biến kiểm soát ROA do điều kiện suy thoái kinh tế trong giai đoạn nghiên cứu. Pornsit Jiraporn, Peter J.
DaDalt, “Does Founding Family Control Affect Earnings Management? An Empirical Note”, Applied Economics Letters (2009). Trong nghiên cứu này, tác giả đã đặt ra giả thiết: Mức độ QTLN là thấp trong các công ty gia đình. Tác giả lựa chọn mẫu bắt đầu bằng danh sách các công ty do Anderson and Reeb cung cấp (2003a, 2003b, 2004). Danh sách này chứa hơn 1.500 công ty trong những năm 1990 và xác định mỗi công ty là công ty gia đình hoặc không có gia đình.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty sở hữu gia đình có một cấu trúc sở hữu rất bất thường. Bằng chứng gần đây cho thấy rằng kiểm soát gia đình ảnh hưởng đến hiệu suất của công ty (Anderson and Reeb, 2003a, 2003b). Nghiên cứu này xem xét một vấn đề liên quan: Liệu các công ty do gia đình QTLN 123doc 9 ở mức độ thấp hơn so với các đối tác không thuộc quyền kiểm soát của họ. Kết quả chỉ ra rằng QTLN thực sự xảy ra ở mức độ thấp hơn trong các công ty gia đình so với các công ty không phải là gia đình.
Iszmi Ishak, Mohamad Nor Haron, Nik Mohamad Zaki Nik Salleh and Azwan Abdul Rashid, “Family Control and Earnings Management: Malaysia Evidence”, International Conference on Economics, Business and Management (2011). Trong bài tạp chí này, tác giả khảo sát tác động chín biến độc lập: Sự kiểm soát gia đình, HĐQT độc lập, quy mô HĐQT, quy mô Ủy ban kiểm toán, Ủy ban kiểm toán với những người có kinh nghiệm về tài chính, số cuộc họp của Ủy ban kiểm toán, quy mô công ty kiểm toán, quy mô HĐQT, đòn bẩy tài chính và quy mô công ty. Tác giả đã lựa chọn ngẫu nhiên 236 công ty niêm yết trên thị trường chính của Bursa Malaysia và sử dụng mô hình Modified Jones (1994) để nhận diện, đo lường biến phụ thuộc – biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được. Kết quả cho thấy các biến kiểm soát gia đình, quy mô HĐQT, quy mô Ủy ban kiểm toán, quy mô công ty có quan hệ đồng biến, trong khi đó, số cuộc họp của Ủy ban kiểm toán có quan hệ nghịch biến đến hành vi QTLN.
Các biến HĐQT độc lập, Ủy ban kiểm toán với những người có kinh nghiệm về tài chính, quy mô công ty kiểm toán và đòn bẩy tài chính không có ý nghĩa thống kê. Tác giả đã khảo sát được sự ảnh hưởng của chín biến đối với hành vi QTLN, trong đó kiểm soát gia đình được tác giả nghiên cứu thể hiện bằng số giám đốc trong ban giám đốc có quan hệ gia đình với nhau. Kết quả cho thấy có tác động đồng biến giữa kiểm soát gia đình và hành vi QTLN, có nghĩa là số thành viên gia đình trong ban giám đốc càng lớn thì hành vi QTLN càng cao. Tuy nhiên, tác giả không xác định và so sánh ảnh hưởng của các nhân tố khác trong công ty là gia đình và công ty không phải gia đình.
A’ieshah Abdullah Sani & Nor’azam Mastuki, “The Influence of Family Controlled and Board Independence towards Earnings Management in Malaysian Listed Family Firms”, Technology, Science, Social Sciences and Humanities International Conference (2012). 123doc 10 Trong bài tạp chí, tác giả đã khảo sát các biến độc lập: HĐQT độc lập, Chủ tịch HĐQT độc lập, mức độ kiểm soát quyền sở hữu gia đình, các biến kiểm soát: Quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, thành quả công ty và giá trị thị trường của tỷ lệ vốn chủ sở hữu. Tác giả sử dụng mô hình Kothari et al. (2005) để nhận diện, đo lường Biến phụ thuộc - Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được.
Kết quả cho thấy đòn bẩy tài chính và thành quả hoạt động của công ty có mối quan hệ đồng biến đối với hành vi QTLN, trong khi đó HĐQT độc lập, Chủ tịch HĐQT độc lập, quyền kiểm soát gia đình, quy mô công ty, giá trị thị trường của tỷ lệ vốn chủ sở hữu không ảnh hưởng đến hành vi QTLN. Park & Shin, “Board composition and earnings management in Canada”, Journal of Corporate Finance (2004). Nghiên cứu này đo lường sự ảnh hưởng của thành phần HĐQT đến QTLN. Tác giả sử dụng mô hình của Dechow et al.
(1995) – Modified Jones để đo lường biến kế toán dồn tích với một mẫu gồm 539 quan sát tại các công ty Canada giai đoạn 1991 –1997. Tác giả nhận thấy lợi nhuận được quản lý theo chiều hướng tăng lên nhằm tránh sự tổn thất trên báo cáo và lợi nhuận bị tụt giảm. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của thành viên HĐQT đến từ các trung gian tài chính và sự hiện diện của cổ đông là tổ chức thì làm giảm hành vi QTLN. Đồng thời, nghiên cứu còn cho thấy tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài làm tăng hành vi QTLN, trái ngược với quan điểm cho rằng tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài sẽ giúp HĐQT tăng tính độc lập, giải quyết xung đột lợi ích giữa cổ đông nhỏ và cổ đông lớn.
Biao Xie, Wallace N. Davidson III, Peter J. DaDalt, “Earnings management and corporate governance: the role of the board and the audit committee”, Journal of Corporate Finance (2003). Bài tạp chí này kiểm tra vai trò của HĐQT, Ủy ban kiểm toán và ban điều hành trong việc ngăn chặn hành vi QTLN trên mẫu gồm 281 công ty trong các năm 1992, 1994 và 1996 từ S&P 500.
Nghiên cứu đã kết luận rằng: Ủy ban kiểm toán và HĐQT độc lập, quy mô HĐQT, số lượng cuộc họp HĐQT, quy mô công ty có mối 123doc 11 quan hệ nghịch biến với hành vi QTLN. Các biến còn lại trong nghiên cứu không ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận (sự kiêm nghiệm CEO và Chủ tịch HĐQT, giám đốc bên ngoài có kinh nghiệm về luật pháp và tài chính, tỷ lệ phiếu bầu của các cổ đông lớn). Roodposhti & Chashmi, “The impact of corporate governance mechanisms on earnings management”, African Journal of Business Management (2011). Nghiên cứu đã xem xét ảnh hưởng của cơ chế quản trị công ty (bao gồm tập trung quyền sở hữu, HĐQT độc lập, kiêm nhiệm hai chức danh Giám đốc điều hành và Chủ tịch HĐQT và cổ đông tổ chức) đến QTLN.
Quy mô công ty và đòn bẩy tài chính là các biến kiểm soát trong mô hình. Mẫu được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm 196 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran (TSE) từ năm 2004 đến 2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giữa tập trung quyền sở hữu, HĐQT độc lập và kiêm nhiệm hai chức danh Giám đốc điều hành và Chủ tịch HĐQT với QTLN có tác động ngược chiều, trong khi các công ty có cổ phần thuộc sở hữu của tổ chức cao thì QTLN nhiều hơn. Đồng thời, nghiên cứu cũng tìm thấy một quan hệ cùng chiều giữa các biến kiểm soát (quy mô công ty và đòn bẩy tài chính) và QTLN.
Dwi Lusi Tyasing Swastika, “Corporate Governance, firm size, and Earning management: Evidence in Indonesia Stock Exchange”, IOSR Journal of Business and Management (2013).