CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Theo COSO năm 1992 đã tiến hành nghiên cứu về hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM). Trong nghiên cứu này, ERM được xây dựng gồm 8 bộ phận bao gồm: môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. Vào năm 2004, COSO chính thức ban hành ERM làm nền tảng trong việc quản trị rủi ro doanh nghiệp, KSNB có vai trò định hướng thị trường của doanh nghiệp và có tác động đến hoạt động phát triển sản phẩm mới của doanh nghiệp Nghiên cứu của Hooks cùng các cộng sự (1994) mô tả môi trường kiểm soát như là một phần của văn hoá tổ chức. Nghiên cứu này thực hiện nhằm phân tích khả năng tác động của các biến độc lập sử dụng trong bài nghiên cứu lên biến phụ thuộc là biến “kết quả”, biến độc lập là các nhân tố của hệ thống KSNB.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra môi trường kiểm soát là nhân tố quan trọng nhất, có tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB. Bài nghiên cứu cũng cho thấy những yếu kém, thiếu sót trong các bộ phận cấu thành của môi trường kiểm soát góp phần dẫn đến thất bại về vấn đề tài chính của các công ty trong hai thập kỷ trước đó. Cụ thể, các nhân tố về đạo đức và phong cách điều hành đóng vai trò quan trọng nhất. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra kết luận rằng cần có sự điều chỉnh thích hợp trong phong cách điều hành công ty vì chính nó sẽ là động lực và tác động trực tiếp đến hành vi của nhân viên.
Angella Amudo, Eno L. Inanga (2009) với nghiên cứu: “Evaluation of Internal Control Systems: A Case Study from Uganda”. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ với trường hợp thực nghiệm từ Uganda (2009). Nghiên cứu này được thực hiện trên các nước là thành viên thuộc khu vực hoạt động của Ngân hàng Phát triển Châu Phi.
Các tác giả đã phát triển nhằm hoàn thiện được một mô hình chuẩn phục vụ cho việc đánh giá HTKSNB trong các dự án thực hiện ở khu vực công được Uganda tài trợ bởi Ngân hàng Phát triển Châu Phi. Nhóm 7 tác giả đã phát triển mô hình thực nghiệm sử dụng trong nghiên cứu này dựa vào khuôn khổ KSNB của COSO và COBIT. Trong các báo cáo này đã phân ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu HTKSNB bao gồm: (1) môi trường kiểm soát, (2) đánh giá rủi ro, (3) hệ thống thông tin truyền thông, (4) các hoạt động kiểm soát, (5) giám sát, (6) công nghệ thông tin. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng sự không đầy đủ của một số thành phần trong KSNB dẫn đến việc HTKSNB vận hành chưa đạt được sự hữu hiệu cần có.
Tuy vậy, nhóm tác giả cũng lưu ý về việc kết quả này chỉ mới thu được từ cuộc điều tra ở Uganda. Việc áp dụng kết quả nghiên cứu sẽ còn phụ thuộc vào hoàn cảnh và đặc điểm của từng quốc gia cụ thể. Kết quả nghiên cứu có thể có sự khác biệt nếu mô hình được áp dụng cho các quốc gia có sự khác biệt về hoàn cảnh hay đặc điểm. Môi trường kiểm soát Ủy quyền Đánh giá rủi ro quyền Hoạt động kiểm soát Sự hữu hiệu của Mục tiêu Thông tin truyền thông hệ thống KSNB Giám sát Mối quan hệ làm việc Công nghệ thông tin Hình 1.
Mô hình nghiên cứu của Angella & Eno L. (2011) với nghiên cứu “Evaluation of internal control system of banks in Nigeria”. Nghiên cứu này mục đích là để đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các ngân hàng Nigeria, đồng thời nghiên cứu việc thiết lập KSNB hữu hiệu cũng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, độ tin cậy của BCTC và tuân thủ các luật và quy định hiện hành liên quan đến các ngân hàng Nigeria. Nghiên cứu được thực hiện với 5 ngân hàng - Diamond Bank Plc, Ecobank Nigeria Plc, Ngân hàng đầu tiên của Nigeria Plc, Ngân hàng United for Africa Plc và Ngân hàng Quốc tế Zenith trong tổng số 24 ngân hàng hiện tại ở Nigeria.
Dữ liệu được thu thập thông qua việc sử dụng bảng câu hỏi, quan sát và phỏng vấn cá nhân, sử dụng các 8 công cụ thống kê như mô hình tương quan xếp hạng của Spearman, tương quan thời điểm sản phẩm Pearson và mô hình Chi-Square để thử nghiệm các giả thuyết. Ngoài ra còn có việc sử dụng các số liệu thống kê mô tả và tỷ lệ phần trăm. Kết quả cho thấy tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các ngân hàng phụ thuộc vào 5 thành phần theo báo cáo COSO gồm: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Hệ thống KSNB hữu hiệu cũng giúp các ngân hàng đạt được mục tiêu hoạt động, báo cáo tài chính tin cậy và tuân thủ quy định, pháp luật.
Nghiên cứu của Sultana R and Haque M. (2011), Evaluation of Internal Control Structure: Evidence from Six Listed Banks in Bangladesh. Nhằm đánh giá cấu trúc kiểm soát nội bộ, nghiên cứu được thực hiện tại 6 ngân hàng được niêm yết ở Bangladesh. Kết quả thu được chỉ ra rằng để xác định xem một đơn vị có khả năng đảm bảo hoạt động một cách phù hợp với mục tiêu đề ra hay không thì đơn vị đó cần phải được đánh giá về cấu trúc kiểm soát nội bộ.
Nhóm tác giả phát triển mô hình nghiên cứu từ khuôn khổ về KSNB theo báo cáo COSO. Theo đó, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của HTKSNB – cũng chính là các bộ phận cấu thành nên KSNB, bao gồm: (1) môi trường kiểm soát, (2) đánh giá rủi ro, (3) hệ thống thông tin truyền thông, (4) các hoạt động kiểm soát, (5) giám sát. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mô hình trên là có ý nghĩa khi các biến độc lập – các thành phần cấu tạo nên KSNB có mối quan hệ tác động lên từng mục tiêu kiểm soát của các ngân hàng. Cụ thể, khi từng thành phần trong HTKSNB hoạt động tốt sẽ giúp đảm bảo hợp lý các mục tiêu kiểm soát được thực hiện và vì thế đảm bảo sự hữu hiệu của HTKSNB., Kevin Low Lock., & AAJ Fernando (2014), Effectiveness of internal control system in state commercial banks in Sri Lanka.
Nhóm tác giả đã nghiên cứu về sự hữu hiệu của HTKSNB trong các ngân hàng thương mại nhà nước tại Srilanka. Các tác giả đã nhận định rằng HTKSNB là một thành phần chính trong bất kỳ tổ chức nào. KSNB là quá trình được thiết kế, xây dựng và chịu ảnh hưởng bởi những người lãnh đạo, các nhà quản lý và toàn thể nhân viên của đơn vị để cung 9 cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu của tổ chức, các mục tiêu đó liên quan đến độ tin cậy của báo cáo tài chính, hiệu quả hoạt động, tuân thủ luật pháp và các quy định hiện hành. Chính vì vậy, KSNB được thiết kế và vận hành để xử lý các rủi ro kinh doanh đã được xác định có khả năng đe doạ đến việc đạt được các mục tiêu mà đơn vị đề ra.
Kết quả của nghiên cứu đã cho thấy, các nhân tố tác động đến sự hữu hiệu của HTKSNB bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin truyền thông, hoạt động kiểm soát, giám sát. Các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB Nhóm tác giả Nyakundi, Nyamita và Tinega (2014) đã thực hiện nghiên cứu tìm hiểu về tác động của KSNB đến hiệu quả hoạt động của các DN vừa và nhỏ tại Kenya, nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp để đo lường sự tác động của các nhân tố thuộc hệ thống KSNB lên lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI). Dữ liệu được sử dụng phục vụ cho nghiên cứu là dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi, phỏng vấn và dữ liệu thứ cấp là các thông tin được thu thập từ các báo cáo tài chính của các DN được lấy mẫu. Dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả, kết quả cho thấy có mối quan hệ đáng kể giữa hệ thống KSNB và hiệu quả hoạt động tài chính của DN.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 10 Nghiên cứu của tác giả Ngô Trí Tuệ và cộng sự (2004) với đề tài “Xây dựng HTKSNB với việc tăng cường quản lý tài chính tại Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam”.
Ở nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu thiết kế và vận hành HTKSNB phù hợp với đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đề tài chưa làm rõ các rủi ro tài chính để làm căn cứ đánh giá và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các chính sách, thủ tục kiểm soát tại Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam nhằm kiểm soát các rủi ro này. Nghiên cứu của tác giả Phạm Bính Ngọ (2011), về “Tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng”, nghiên cứu đã đi sâu vào việc phân tích vai trò, chức năng của hệ thống KSNB trong đơn vị đặc thù là các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc Phòng, trong đó có chức năng kiểm soát chi nguồn ngân sách quốc phòng, là một bộ phận của ngân sách nhà nước. Tác giả cũng phân tích để tìm ra được những hạn chế còn tồn tại trong bộ máy hệ thống KSNB từ đó đưa ra mô hình tổ chức lại bộ máy này tại các đơn vị trực thuộc BQP.
Tác giả Hà Xuân Thạch & Nguyễn Thị Mai Sang (2016) trong nghiên cứu của mình về xác định ảnh hưởng của các thành phần trong HTKSNB tới chất lượng kiểm soát rủi ro trong các công ty xây dựng trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh, nghiên cứu xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới kiểm soát nội bộ là Môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận dạng rủi ro, đánh giá rủi ro, tiếp nhận rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông, giám sát. Nghiên cứu đã khẳng định sự tác động cùng chiều của các biến này đến chất lượng hoạt động kiểm soát nội bộ tại các công ty xây dựng. Hồ Tuấn Vũ (2016) với nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hệ thống KSNB trong các NHTM - bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam. Tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên 37 NHTM Việt Nam, sử dụng phương pháp phỏng vấn các chuyên gia kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng để đạt được các mục tiêu nghiên cứu.