Chương 1: Giới thiệu 1. Lý do chọn đề tài Trong thời gian vừa qua, Việt Nam ngày càng hội nhập với nền kinh tế toàn cầu với bước ngoặt lớn và quan trọng nhất là sự gia nhập Tổ Chức Thương mại Thế Giới (WTO) vào năm 2007. Theo GES-Kualalumpur 20131 và Tổng Cục Thống Kê Việt Nam (GSO), nhiều minh chứng khác cho thấy sự mở cửa nền kinh tế của Việt Nam gần đây như việc ký kết nhiều Hiệp định thương mại với các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới như: Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam – Nhật Bản (2008), Việt Nam – Chi Lê (2011), 10 quốc gia ASEAN và Úc, New Zealand (2012), Việt Nam – Hàn Quốc (2015), Việt Nam – Liên minh Á Âu (2015), tham gia vào cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC – 2015); gần đây nhất là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP – 2018). Hai bên Việt Nam và Liên Minh Châu Âu (EVFTA) đã công bố chính thức hoàn tất việc rà soát pháp lý đối với Hiệp định Thương mại (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA) LV thạc sĩ Kinh tế vào tháng 6/2018, vốn được tách ra từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EVFTA).
Số liệu từ WorldBank, thể hiện tại hình 1.1 cho thấy Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế nổi bật trong 6 năm qua với tăng trưởng GDP và độ mở thương mại theo tỷ lệ tổng XNK trên GDP đạt cột mốc đáng kể sau các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và nợ công châu Âu.0% 2012 2013 2014 2015 2016 2017 Tăng trưởng GDP 5.81% Độ mở thương mại 156.4% Tăng trưởng GDP Độ mở thương mại (Nguồn: tổng hợp và tính toán từ số liệu World Bank) Hình 1.1 Tăng trưởng GDP và độ mở thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2017 1 GES-Kualalumpur 2013, 2018. Các hiệp định thương mại Việt Nam đã ký kết: quá trình và lợi thế. The Global Entrepreneurship Summit. AO Conventions & Event SDN BHD, Kuala Lumpur Malaysia.
2 Trường phái kinh tế học Keynesian cho rằng chính sách tiền tệ (CSTT) và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ gián tiếp thông qua tác động của lãi suất đối với đầu tư và XNK. Nhiều quan điểm khác cũng cho thấy CSTT ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các quốc gia thông qua các kênh khác nhau và tầm quan trọng tương đối của các kênh này phụ thuộc vào độ mở nền kinh tế (Romer, 1993; Karras, 2001; Rogoff, 2003; Berument, Konac và Seney, 2007). Không dừng lại ở đó, các nghiên cứu của Karras (1999, 2001), Berument và Dogan (2003), Berument, Konac và Seney (2007), Isik và Acar (2009), Hoàng Xuân Bình (2011) và Ekpo và Effiong (2017) cho thấy vai trò của độ mở nền kinh tế đến CSTT, tăng trưởng kinh tế, lạm phát và tỷ giá hối đoái. Các nghiên cứu của Karras (1999, 2001) kết luận rằng khi độ mở càng tăng, tác động của CSTT đến tăng trưởng kinh tế và tỷ giá càng yếu nhưng lại có tác động càng mạnh đến lạm phát.
Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu cho ra kết quả không đồng nhất với các nghiên cứu của Karras. Nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ, Berument và Dogan (2003) cho thấy mức tăng trưởng sản lượng và lạm phát có mối quan hệ ngược chiều LV thạc sĩ Kinh tế với độ mở nền kinh tế. Nghiên cứu của Berument và Seney (2007) kết luận rằng tầm quan trọng của mối quan hệ giữa độ mở và hiệu quả của CSTT đối với tăng trưởng sản lượng và lạm phát tương ứng rất khác nhau giữa các quốc gia. Điều này cho thấy mối quan hệ giữa độ mở và hiệu quả của CSTT phụ thuộc vào các yếu tố khác, như sự khác biệt thực sự giữa CSTT và cơ chế truyền dẫn tiền tệ của các quốc gia.
Hoàng Xuân Bình (2011) có quan điểm cho rằng tăng trưởng kinh tế và độ mở thương mại có mối quan hệ tích cực, nhưng chưa xem xét đến sự tác động của độ mở thương mại đến CSTT. Ekpo và Effiong (2017) cũng có kết luận không đồng nhất rằng ở 37 quốc gia châu Phi, khi độ mở tăng lên sẽ đẩy mạnh tác động của CSTT lên tăng trưởng sản lượng và làm giảm tác dụng của CSTT đối với lạm phát, gia tăng độ mở dẫn đến giảm lạm phát. Như vậy, thông qua các nghiên cứu trên, vẫn chưa có kết quả nhất quán từ các nghiên cứu thực tiễn ở nhiều quốc gia. Thực tế, sự phát triển của nền kinh tế thế giới và Việt Nam đã chậm lại giai đoạn sau khủng hoảng tài chính năm 2008 và khủng hoảng nợ công châu Âu 2012.
Sau giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam ngày càng 3 hội nhập hơn và đạt được nhiều số liệu kinh tế ấn tượng, đặc biệt là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với tỷ lệ độ mở nền kinh tế. Các yếu tố trên đã tạo cơ hội nghiên cứu cho luận văn này, nhằm xem xét sự ảnh hưởng của độ mở nền kinh tế lên tác động của CSTT lên tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn được thực hiện nhằm đánh giá tác động của CSTT lên tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam khi độ mở cửa nền kinh tế thay đổi. Câu hỏi nghiên cứu Khi độ mở thay đổi, ảnh hưởng của CSTT lên tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam sẽ thay đổi như thế nào? 1.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu bao gồm tác động của CSTT tại Việt Nam (đại diện qua LSCS) dưới sự ảnh hưởng của độ mở nền kinh tế, thông qua hai thước đo là độ mở thương mại và độ mở tài chính. LV thạc sĩ Kinh tế Phạm vi nghiên cứu là ảnh hưởng của độ mở nền kinh tế đến tác động của CSTT lên tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn từ quý 1/2004 đến quý 4/2017. Phương pháp nghiên cứu Luận văn tiến hành nghiên cứu bằng phương pháp định lượng, sử dụng mô hình do Georgios Karras (1999, 2001) xây dựng để đo lường ảnh hưởng của độ mở cửa nền kinh tế đến tác động của CSTT lên tăng trưởng kinh tế. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ WorldBank (WB) và Quỹ Tiền Tệ Thế Giới (IMF).
Dựa trên mô hình do Karras xây dựng, luận văn dự kiến sẽ điều chỉnh mô hình, bổ sung thêm biến nhằm xác định tác động của độ mở cửa tài chính (FDIj,t/GDPj,t) đến CSTT và tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, luận văn sẽ sử dụng phương pháp ước lượng Ordinary Least Squares (OLS) và Generalized Least Squares (GLS), kết hợp với các kiểm định độ trễ, tính dừng, phương sai thay đổi và tự tương quan của các biến độc lập nhằm tăng tính khả thi của kết quả đạt được. Kết quả kỳ vọng và những đóng góp của luận văn Luận văn kỳ vọng sẽ thu được kết quả đúng với giả thuyết nghiên cứu của luận văn được rút ra từ các bài nghiên cứu của Karras (1999, 2001), khi độ mở nền kinh tế tại Việt Nam càng lớn (nhỏ), tác động của CSTT lên tăng trưởng kinh tế sẽ càng yếu (mạnh). Việc luận văn xem xét độ mở thương mại, độ mở tài chính riêng biệt từng trường hợp và đồng thời cả hai độ mở (thương mại và tài chính) đến tác động của CSTT lên tăng trưởng kinh tế bằng mô hình của Karras (1999, 2001) chưa được tìm thấy trong các nghiên cứu trước đây.
Kết quả nghiên cứu này mang lại cơ sở thực nghiệm có ý nghĩa đối với việc hoạch định và thực hiện CSTT tại Việt Nam một cách thận trọng, có xem xét đến độ mở nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế thế giới thể hiện qua độ mở nền kinh tế ngày càng cao. LV thạc sĩ Kinh tế 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm 2. Khái niệm, mục tiêu và công cụ của CSTT 2. Khái niệm CSTT Nhằm tạo cơ sở lý thuyết cho mục tiêu, công cụ và cơ chế truyền dẫn của CSTT, luận văn trình bày một số quan điểm về CSTT từ nghiên cứu của các nhà kinh tế học trước đây.
Theo Lattie (2000), CSTT là các hành động được NHTW thực hiện nhằm tác động đến lượng tiền và tín dụng trong nền kinh tế. Khi làm như vậy, NHTW có thể xác định mức độ chi tiêu dùng hoặc đầu tư, và do đó ảnh hưởng đến giá cả và tăng trưởng kinh tế trong nước. CSTT hoạt động thông qua hệ thống tài chính – chủ yếu là các NHTM. Khi đó, NHTW sẽ kiểm soát lượng tiền hoặc tín dụng (cho vay) thông qua các NHTM để tác động đến nền kinh tế.
Theo quan điểm Loayza và Schmidt-Hebbell (2002), CSTT bao gồm các LV thạc sĩ Kinh tế luật lệ và hành động được điều chỉnh bởi NHTW để đạt được mục tiêu của NHTW. Mathai (2009) lại cho rằng CSTT là việc điều chỉnh nguồn cung tiền trong nền kinh tế nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định sản lượng. Mishkin (2016), CSTT đơn giản là việc quản lý cung tiền và lãi suất trong nền kinh tế, được điều hành bởi NHTW. Trước đây, Copeland (2005), cũng đã cho rằng CSTT mang nghĩa khác nhau trong một nền kinh tế mở.
Đối với chế độ tỷ giá thả nổi, CSTT là sự quản lý cung tiền và ngược lại là sự quản lý tín dụng nội địa trong chế độ tỷ giá cố định. Như vậy, một cách tổng quát, CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô, được NHTW sử dụng như một công cụ điều chỉnh lượng cung tiền và lãi suất nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế đã đặt ra. Mục tiêu của CSTT CSTT hoạt động thông qua các công cụ, NHTW sẽ tác động vào các mục tiêu trung gian (cung tiền, lãi suất), từ đó tác động đến mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu duy trì mức giá ổn định ngày càng được các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới quan tâm hơn.
Sự ổn định về giá, mà các NHTW định nghĩa là lạm 6 phát thấp và ổn định, ngày càng được xem là mục tiêu quan trọng nhất của CSTT. Các nghiên cứu của Kahn và Jacobson (1989), Loayza và Hebbel (2002), Ólafsson (2006) và Mishkin (1999), cho thấy mục tiêu chính và cơ bản của CSTT là ổn định giá cả. Tuy nhiên cũng có quan điểm không đồng nhất, Bordo và Wheelock (2007) cho rằng có ba mục tiêu quan trọng của CSTT là ổn định giá cả, ổn định kinh tế (tỷ lệ thất nghiệp thấp) và cuối cùng là ổn định hệ thống tài chính.