MỞ ĐẦU Ở Việt Nam, cá tra là loài được nuôi phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và có giá trị xuất khẩu cao. Theo Hiệp hội Chế biến thủy sản Việt Nam, xuất khẩu cá tra của Việt Nam đang tăng mạnh về số lượng với trên 100 thị trường trên thế giới. Cá tra nuôi thâm canh sử dụng một tỉ lệ nhất định bột cá và một số lượng lớn protein thực vật (Lê Thanh Hùng, 2008). Hiện nay, sản lượng bột cá của thế giới có xu hướng giảm, trong khi nhu cầu bột cá cho sản xuất thức ăn thủy sản gia tăng liên tục.
Năm 2006, ngành nuôi trồng thuỷ sản đã tiêu thụ khoảng 3,724 triệu tấn (68,2% ) sản lượng bột cá của thế giới và 0,835 triệu tấn (88,5 %) tổng sản lượng dầu cá của thế giới (Tacon và Metian, 2008) dẫn đến giá bột cá ngày một tăng cao. Vì vậy, khuynh hướng giảm tỷ lệ sử dụng bột cá và tìm nguồn nguyên liệu thay thế từ thực vật là một điều tất yếu. Tuy nhiên, các nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật thường chứa một số chất kháng dinh dưỡng như chất ức chế enzyme tiêu hoá, tanin…đặc biệt là phytate dẫn đến mất cân bằng các chất dinh dưỡng, đặc biệt là phosphor. Để giải quyết vấn đề này, nhà sản xuất phải bổ sung phosphor từ các nguồn muối vô cơ hay sử dụng các enzyme phytase (Francis và ctv., 2001; Tacon và Metian, 2008).
Phosphor là một chất khoáng cần thiết cho sự sinh trưởng, phát triển bình thường của các đối tượng thuỷ sản, tuy nhiên người ta khuyến khích dùng với hàm lượng giới hạn vì dễ gây ô nhiễm môi trường khi hàm lượng phosphor sử dụng không tiêu hóa được. Trong nguyên liệu sản xuất thức ăn, phosphor hiện diện trong các hạt ngũ cốc chủ yếu dưới dạng phytate. Phytate liên kết chặt chẽ với một số muối khoáng như calci, sắt và kẽm, dẫn tới làm giảm độ tiêu hoá của các muối khoáng này nên gây triệu chứng thiếu muối khoáng khi sử dụng nhiều nguyên liệu gốc thực vật. Phosphor ở dạng 1 phytate khó tiêu hoá vì cá thiếu men phytase trong hệ thống tiêu hoá của chúng (NRC, 1993; Francis và ctv.
Phytase là một enzyme có khả năng phá vỡ các liên kết trong công thức của phức hệ phytate không tiêu hoá được và giải phóng phosphor, calci và các chất dinh dưỡng khác (Debnath và ctv., 2005b; Cao và ctv. Một số nghiên cứu gần đây đã cho thấy việc bổ sung phytase vào thức ăn có tác động đáng kể đến sự tăng trưởng cũng như khả năng tiêu hoá một số dưỡng chất của một số loài cá nuôi phổ biến như cá basa (Trần Ngọc Thiên Kim, 2005); cá rô phi (Phromkunthong và Gabaudan, 2006; Liebert và Portz, 2007; Tudkaew và ctv., 2008; Abo-State và ctv. Tuy nhiên, hiện tại vẫn còn rất ít thông tin về việc bổ sung phytase vào thức ăn cho cá tra. Được sự cho phép của Khoa Thủy sản trường Đại học Nông Lâm TP.
Hồ Chí Minh cùng với sự hỗ trợ của Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản Novus, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “So sánh ảnh hƣởng của việc bổ sung phytase và dicalci–phosphate lên tốc độ tăng trƣởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và hàm lƣợng phosphor của cá tra giống (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878)” Mục tiêu của đề tài: - So sánh ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme phytase với việc bổ sung dicalci– phosphate (DCP) lên tốc độ tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và hàm lượng phosphor của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus). - Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung phytase và DCP lên độ tiêu hóa protein, vật chất khô và phosphor của cá tra. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Một số đặc điểm sinh học của cá tra 1.
Phân loại Ở Việt Nam, cá tra sống chủ yếu trong lưu vực sông Cửu Long. Chúng có thân dẹp, da trơn, râu ngắn. Theo hệ thống phân loại của Sauvage, 1878, cá tra có hệ thống phân loại như sau: Ngành : Chordata (có dây sống) Ngành phụ : Vertebrata (có xương sống) Lớp : Pisces Bộ : Siluriformes Họ : Pangasiidae Giống : Pangasianodon Loài : Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) Tên tiếng anh : tra catfish Tên tiếng việt : cá tra 1. Phân bố Vùng phân bố tự nhiên của loài cá tra giới hạn trong hạ lưu sông Cửu Long, bao gồm Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, kể cả sông Chao Phraya ở Thái Lan (Roberts và Vidthayanon, 1991).
Cá nhỏ thường phân bố ở khu vực hạ lưu, còn cá gần trưởng thành thường phân bố ở vùng trung lưu (Rainboth, 1996). Cá tra thuộc đối tượng cá nuôi vùng nhiệt đới và chúng không phân bố từ vĩ tuyến 15 trở ra phía bắc (Nguyễn Duy Hoan, 2006). Đặc điểm hình thái Cá tra thân dài lưng màu xám hơi xanh, vây lưng và vây đuôi màu xám, phần chót vây đuôi màu hơi đỏ, đầu nhỏ vừa phải, bụng màu trắng. Là loài cá da trơn, miệng rộng và có hai đôi râu.
Công thức vây A. Ruột ngắn không gấp khúc mà dính vào màng treo ruột, chiều dài ruột so với chiều dài thân biến thiên 1,04 – 2,23. Việc phân biệt cá đực và cá cái khó khăn hơn các loài cá khác (Nguyễn Duy Hoan, 2006). Hình thái bên ngoài của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) 1.
Đặc điểm sinh thái - Oxy hòa tan Trong tự nhiên cá tra sống được ở thủy vực nước chảy và nước tĩnh. Cá tra có cơ quan hô hấp phụ là bóng khí, chịu đựng được môi trường nước thiếu oxy. Hàm lượng oxy hòa tan tối ưu cho cá là 3 – 6 mg/L (Phạm Văn Khánh, 2000). - Nhiệt độ Cá tra là loài chịu lạnh kém, nhiệt độ tối ưu cho cá tra là 26 – 30oC (Phạm Văn Khánh, 2000).
Ở nhiệt độ 15oC thì cường độ bắt mồi của cá giảm nhưng cá vẫn sống. Khi nhiệt độ tăng lên 39oC thì cá có hiện tượng mất nhớt, bơi lội lờ đờ không bình thường (Nguyễn Tuần, 2000). 4 - Độ pH Sự biến động pH có tác động rất lớn đến cường độ trao đổi chất cũng như tốc độ tăng trưởng của cá. Theo Phạm Văn Khánh (2000), pH thích hợp cho cá tra là 7 – 8.
- Độ mặn Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, không sống được trong nước mặn, nhưng có khả năng sống được trong các vùng nước lợ. Cá tra có thể sống và sinh trưởng ở độ mặn 8‰ (Nguyễn Duy Hoan, 2006). Đặc điểm dinh dƣỡng Khi mới nở, cá tra dinh dưỡng bằng noãn hoàng. Khi hết noãn hoàng cá tra ăn động vật phù du cỡ nhỏ.
Trong điều kiện sinh sản nhân tạo cá bột có thể ăn lòng đỏ trứng gà, trứng vịt luộc nghiền nhỏ. Đến khi trưởng thành, chuyển sang ăn thức ăn theo loài. Thức ăn chủ yếu của cá tra là động vật, nhưng trong điều kiện tự nhiên cũng như trong ao nuôi, cá tra thuộc loài ăn tạp. Thành phần thức ăn của cá tra trưởng thành bao gồm: thực vật đa bào 16%, côn trùng 18,2%, thực vật thượng đẳng 10,07%, cá 31,8%, giáp xác 2,3%, động vật thân mềm 35,4% (Nguyễn Duy Hoan, 2006).
Đây là đối tượng thuộc loài phàm ăn, khẩu phần thức ăn lớn. Ngoài ra, cá tra có thể ăn các loại thực vật thân mềm trên cạn cũng như dưới nước. Dạ dày cá tra phình to hình chữ U và có độ co giãn lớn. Dạ dày to, ruột ngắn là đặc điểm của loài cá có tính ăn động vật.
Chiều dài ruột phát triển nhanh ở giai đoạn cá hương lên cá giống, sau đó phát triển chậm lại. Đặc điểm sinh trƣởng Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, cá còn nhỏ phát triển nhanh về chiều dài. Cá 2 tháng tuổi đã đạt chiều dài 10 – 12 cm, nặng 14 – 15 g/con. Theo Phạm Văn Khánh (2000), cá có trọng lượng 0,30 – 0,40 kg/con thì tăng nhanh về chiều dài cũng như trọng lượng, còn cá từ khoảng 2,5 kg/con trở đi mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với chiều dài cơ thể.
Tình hình nuôi cá tra ở Việt Nam Nuôi cá tra đã có từ những năm 50 của thế kỷ trước, xuất phát từ đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và đây là vùng nuôi cá da trơn quan trọng nhất ở Việt Nam. Các loài nuôi phổ biến là cá tra và cá basa với hình thức nuôi phổ biến là nuôi lồng, nuôi ao và đăng quầng. Việc nuôi lồng đã bắt đầu ở Châu Đốc và tiếp tục phát triển tới các vùng khác dọc theo hệ thống sông như Long Xuyên, Cần Thơ và Vĩnh Long. Hiện nay, nghề nuôi cá da trơn trong ao hầm cũng sớm trở thành hình thức nuôi chính cho những đối tượng này (Hung và ctv.
Cá tra là loài nuôi có giá trị kinh tế cao, kích thước lớn, dễ nuôi, tăng trọng nhanh, không có xương dăm và thịt dai có vị ngon. Bên cạnh đó cá có hệ số fillet sau thành phẩm cao và được nhiều thị trường trên thế giới ưa chuộng. Cá tra có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, trung bình đối với cá tra nuôi một năm đạt 1,5 – 2,0 kg. Nuôi thương phẩm trong ao cho năng suất rất cao, đạt 150 – 350 tấn/ha/vụ (Phương và ctv., 2004), nuôi bè có thể đạt 150 – 200 kg/m3 (Hung và ctv.
Nuôi cá tra là một trong các hình thức nuôi thủy sản phát triển nhanh nhất trên thế giới. Theo số liệu của hiệp hội xuất khẩu và chế biến thủy sản Việt Nam, sản lượng cá tra đã tăng gấp đôi từ khoảng 400.000 tấn năm 2006 và đạt 1 triệu tấn năm 2007 (đối thoại nuôi cá tra – basa, 2008). Và theo số liệu thống kê của cục Nuôi trồng Thủy sản (2009), tổng diện tích nuôi cá tra ở ĐBSCL năm 2008 là 6.160 ha, tăng gấp 1,25 lần so với năm 2005, sản lượng đạt 1. Vào những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, tình hình nuôi cá tra đã có những bước phát triển mạnh khi các doanh nghiệp chế biến đã tìm ra thị trường xuất khẩu.
Đặc biệt, từ năm 1991 – 1996 quy trình ương nuôi cá giống dần dần hoàn thiện và kết quả ngày càng ổn định. Nghành sản xuất thức ăn công nghiệp cho cá da trơn xuất hiện vào năm 1998. Thức ăn viên có một số ưu thế như làm tăng tốc độ tăng trưởng và giảm hệ số sử dụng thức ăn, vì vậy nó đã phát triển rất nhanh và được sử dụng rộng rãi tại các vùng nuôi cá tra ở ĐBSCL (Hung và ctv. Kết quả, nghề 6 nuôi cá tra ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ và Việt Nam trở thành nước sản xuất cá tra lớn nhất trên thế giới (Hung và Huy, 2007).