Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của hiệu ứng phi điều hoà và áp suất lên các đại lượng nhiệt động của các tinh thể có cấu trúc lập phương trong lý thuyết exafs

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của hiệu ứng phi điều hoà và áp suất lên các đại lượng nhiệt động trong tinh thể cấu trúc lập phương qua lý thuyết EXAFS.

Trường đại học

Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Tác giả

Trịnh Phi Hiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

121
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

CÁC KÝ HIỆU CHUNG

DANH SÁCH BẢNG

DANH SÁCH HÌNH VẼ

1. PHẦN MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN VỀ PHỔ CẤU TRÚC TINH TẾ HẤP THỤ TIA X

1.1. Bức xạ tia X

1.2. Bức xạ Synchrotron

1.3. Lý thuyết về phổ cấu trúc tinh tế hấp thụ tia X

1.4. Ảnh Fourier của phổ cấu trúc tinh tế hấp thụ tia X

1.5. Hàm phân bố hiệu dụng

1.6. Hệ số Debye - Waller

1.7. Biên độ và pha của phổ cấu trúc tinh tế hấp thụ tia X mở rộng

1.8. Thế tương tác trong phổ cấu trúc tinh tế hấp thụ tia X mở rộng

1.9. Kết luận

2. LÝ THUYẾT VỀ PHỔ CẤU TRÚC TINH TẾ HẤP THỤ TIA X MỞ RỘNG PHI ĐIỀU HÒA

2.1. Phổ EXAFS phi điều hòa

2.2. Mô hình Debye và Einstein trong EXAFS phi điều hòa

2.2.1. Mô hình Debye tương quan phi điều hòa

2.2.2. Mô hình Einstein tương quan phi điều hòa

2.3. Phép khai triển cumulant dựa vào ACEM trong phổ EXAFS phi điều hòa

2.4. Hệ số Debye-Waller phi điều hòa

2.5. Hệ số giãn nở nhiệt

2.5.1. Hệ số giãn nở khối

2.5.2. Hệ số giãn nở tuyến tính

2.6. Hệ số phi điều hòa và đóng góp của hiệu ứng phi điều hòa vào biên độ của phổ EXAFS

2.7. Pha của phổ EXAFS phi điều hòa

2.8. Hiệu ứng lượng tử ở các nhiệt độ giới hạn

2.8.1. Biểu diễn các tham số nhiệt động qua cumulant bậc 2

2.8.2. Hiệu ứng lượng tử ở các nhiệt độ giới hạn

2.9. Kết luận chương

3. SỰ PHỤ THUỘC VÀO ÁP SUẤT, TỶ LỆ PHA TẠP VÀ NHIỆT ĐỘ CỦA CÁC ĐẠI LƯỢNG NHIỆT ĐỘNG TRONG PHỔ EXAFS PHI ĐIỀU HÒA

3.1. Sự phụ thuộc vào áp suất của các đại lượng nhiệt động

3.1.1. Áp dụng ACEM nghiên cứu sự ảnh hưởng của áp suất vào các cumulant trong EXAFS phi điều hòa

3.1.2. Áp dụng mô hình Debye tương quan phi điều hòa nghiên cứu sự ảnh hưởng của áp suất vào cumulant bậc hai trong EXAFS phi điều hòa

3.2. Sự phụ thuộc vào tỉ lệ pha tạp của các cumulant

3.3. Sự phụ thuộc vào tỉ lệ pha tạp của các tham số nhiệt động trong phổ EXAFS phi điều hòa

3.3.1. Hệ số giãn nở nhiệt

3.3.2. Hệ số phi điều hòa của phổ EXAFS

3.3.3. Pha dao động của phổ EXAFS phụ thuộc vào tỷ lệ pha tạp

3.3.4. Biểu thức các tham số nhiệt động của hệ vật liệu có cấu trúc lập phương tâm khối (bcc)

3.3.5. Biểu thức các tham số nhiệt động của hệ vật liệu có cấu trúc lập phương tâm diện (fcc)

3.3.6. Biểu thức các tham số nhiệt động của hệ vật liệu có cấu trúc lập phương đơn giản (sc)

3.7. Kết luận chương

4. ÁP DỤNG TÍNH SỐ ĐỐI VỚI MỘT SỐ TINH THỂ VÀ HỢP KIM LIÊN KIM LOẠI

4.1. Xác định tham số thế năng Morse bằng lý thuyết - áp dụng đối với tinh thể fcc có cấu trúc kiểu kim cương

4.2. Sự phụ thuộc nhiệt độ của các hàm dịch chuyển tương quan của nguyên tử dưới tác dụng của áp suất

4.3. Kết luận chương

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của hiệu ứng phi điều hòa

Hiệu ứng phi điều hòa trong các tinh thể lập phương có ảnh hưởng lớn đến các đại lượng nhiệt động học. Khi nhiệt độ tăng, các nguyên tử trong tinh thể dao động mạnh hơn, dẫn đến sự gia tăng biên độ dao động. Điều này làm cho các hiệu ứng phi điều hòa trở nên đáng kể, ảnh hưởng đến các tham số như hệ số giãn nở nhiệt và hệ số Debye-Waller. Theo lý thuyết EXAFS, các cumulant được sử dụng để mô tả các hiệu ứng này. Việc áp dụng mô hình Einstein tương quan phi điều hòa (ACEM) cho phép tính toán chính xác hơn các tham số nhiệt động trong điều kiện nhiệt độ cao. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc bỏ qua hiệu ứng phi điều hòa có thể dẫn đến sai số lớn trong các kết quả thực nghiệm. Do đó, việc xây dựng mô hình lý thuyết phù hợp là rất cần thiết để hiểu rõ hơn về cấu trúc và tính chất của các vật liệu tinh thể. Những kết quả này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc phát triển các vật liệu mới.

1.1. Mô hình Debye và Einstein trong EXAFS phi điều hòa

Mô hình Debye và Einstein là hai mô hình cơ bản được sử dụng để mô tả dao động của nguyên tử trong tinh thể. Mô hình Debye giả định rằng các nguyên tử dao động điều hòa quanh vị trí cân bằng, trong khi mô hình Einstein cho phép các dao động phi điều hòa. Sự kết hợp giữa hai mô hình này giúp hiểu rõ hơn về các hiệu ứng nhiệt động trong các tinh thể lập phương. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng mô hình Debye tương quan phi điều hòa có thể mô tả chính xác hơn các tham số nhiệt động trong điều kiện áp suất cao. Việc áp dụng các mô hình này trong lý thuyết EXAFS giúp xác định các tham số như hệ số giãn nở nhiệt và hệ số phi điều hòa, từ đó cung cấp thông tin quan trọng về cấu trúc và tính chất của vật liệu. Những kết quả này có thể được áp dụng trong nghiên cứu và phát triển các vật liệu mới, đặc biệt là trong lĩnh vực vật liệu nano và hợp kim liên kim loại.

II. Ảnh hưởng của áp suất lên nhiệt động học

Áp suất là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các đại lượng nhiệt động trong các tinh thể lập phương. Khi áp suất tăng, các nguyên tử trong tinh thể bị nén lại, dẫn đến sự thay đổi trong biên độ dao động và các tham số nhiệt động khác. Nghiên cứu cho thấy rằng áp suất có thể làm thay đổi đáng kể hệ số giãn nở nhiệt và hệ số Debye-Waller. Việc áp dụng mô hình Debye tương quan phi điều hòa cho phép phân tích sự phụ thuộc của các cumulant vào áp suất. Các kết quả cho thấy rằng sự thay đổi áp suất có thể làm thay đổi đáng kể các tham số nhiệt động, từ đó ảnh hưởng đến tính chất vật lý của vật liệu. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế và phát triển các vật liệu chịu áp lực cao, như trong ngành công nghiệp chế tạo và vật liệu xây dựng.

2.1. Sự phụ thuộc vào áp suất của các đại lượng nhiệt động

Sự phụ thuộc của các đại lượng nhiệt động vào áp suất được nghiên cứu thông qua các mô hình lý thuyết như ACEM và ACDM. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi áp suất tăng, các cumulant trong phổ EXAFS phi điều hòa cũng thay đổi theo. Điều này cho thấy rằng áp suất không chỉ ảnh hưởng đến cấu trúc mà còn đến các tính chất nhiệt động của vật liệu. Việc xác định các tham số nhiệt động dưới áp suất cao là rất quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về hành vi của các vật liệu trong điều kiện khắc nghiệt. Các kết quả nghiên cứu này có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, từ vật liệu học đến công nghệ nano, giúp phát triển các vật liệu mới với tính chất ưu việt hơn.

III. Tính toán và ứng dụng thực tiễn

Việc tính toán các tham số nhiệt động và cumulant trong các tinh thể lập phương dưới ảnh hưởng của hiệu ứng phi điều hòa và áp suất là rất quan trọng. Các phương pháp tính toán hiện đại cho phép mô phỏng chính xác các điều kiện thực nghiệm, từ đó rút ra các kết luận có giá trị. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các mô hình lý thuyết như ACEM và ACDM giúp cải thiện độ chính xác của các kết quả tính toán. Những kết quả này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc phát triển các vật liệu mới, đặc biệt là trong lĩnh vực vật liệu nano và hợp kim liên kim loại. Việc hiểu rõ hơn về các tham số nhiệt động trong các điều kiện khác nhau sẽ giúp các nhà khoa học và kỹ sư thiết kế và phát triển các vật liệu với tính chất tối ưu hơn.

3.1. Ứng dụng trong nghiên cứu vật liệu

Các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của hiệu ứng phi điều hòa và áp suất đến các đại lượng nhiệt động có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu vật liệu. Việc hiểu rõ hơn về các tham số nhiệt động sẽ giúp các nhà khoa học phát triển các vật liệu mới với tính chất ưu việt hơn. Các ứng dụng này bao gồm việc phát triển các vật liệu chịu nhiệt, vật liệu nano và hợp kim liên kim loại. Những nghiên cứu này không chỉ có giá trị trong lý thuyết mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc cải thiện chất lượng và hiệu suất của các sản phẩm công nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

13/02/2025
Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của hiệu ứng phi điều hoà và áp suất lên các đại lượng nhiệt động của các tinh thể có cấu trúc lập phương trong lý thuyết exafs

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHỔ CẤU TRÚC TINH TẾ HẤP THỤ TIA X 1.1 Bức xạ tia X Tia X được Röntgen phát hiện năm 1895 đã góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu cấu trúc của vật liệu. Người ta thường sử dụng bức xạ tia X đóng vai trò là nguồn photon trong các tương tác với vật rắn. Kết quả thu được của tương tác này là các phổ có chứa thông tin về cấu trúc của vật rắn [2, 69, 75]. Trong thí nghiệm đối với ống tia X, khi các electron được tạo ra bởi sợi dây Wolfram được nung nóng và chuyển động rất nhanh từ cathode đến anode nhờ một hiệu điện thế cao giữa hai cực trong chân không, do có năng lượng lớn nên các electron xuyên sâu vào lớp vật chất của kim loại chắn và tạo ra bức xạ điện từ có bước sóng rất ngắn gọi là tia X.

Theo quy tắc Duane-Hunt, nếu bỏ qua động năng ban đầu và tất cả năng lượng mà electron thu được chuyển thành năng lượng photon của tia X thì bước sóng cực tiểu của tia X sẽ được xác định bởi: hc 2π ℏc λmin = = , (ε = eV ) (1.1) ε eV với h là hằng số Planck, c là tốc độ ánh sáng trong chân không, e là điện tích của một electron và λmin là bước sóng cực tiểu ứng với năng lượng cao nhất của tia X có thể nhận được đối với điện thế tăng tốc V. Phổ tia X gồm phần liên tục và phần đặc trưng. Khi các electron va chạm vào kim loại chắn, chúng truyền năng lượng cho tấm chắn nên trên bề mặt tấm chắn có một điện từ trường biến thiên rất nhanh và tạo ra một sóng điện từ có bước sóng rất ngắn, kết quả là cho một phổ bức xạ hãm liên tục (Bremsstrahlung spectrum) hay phổ tia X liên tục (Hình 1. Khi điện thế 6 Hình 1.1: Phổ liên tục của tia X và phổ bức xạ đặc trưng tăng lên, thì bước sóng λmin giảm và cường độ toàn phần sẽ tăng.

Sự phát sinh tia X đặc trưng có liên quan với sự dịch chuyển electron của các nguyên tử giữa các vùng năng lượng. Khi điện thế tăng đến một giá trị nhất định, chùm electron có khả năng xuyên sâu vào vật liệu và va chạm với các nguyên tử làm electron của nguyên tử bị bật ra khỏi lớp vỏ nguyên tử tạo ra ở đó một lỗ trống. Theo nguyên lý cực tiểu năng lượng electron từ các mức năng lượng cao hơn trong vùng dẫn nhảy xuống lấp đầy các lỗ trống này và phát ra các bức xạ đặc trưng. Trên bảng quang phổ tạo ra một số vạch rõ, gián đoạn, mô tả bằng các đường đặc trưng chồng lên phổ bức xạ hãm liên tục và lớn hơn cường độ của bức xạ hãm cỡ 103 lần và được biểu diễn trên Hình (1.

Cường độ này phụ thuộc vào hai mức năng lượng nguyên tử tham gia vào chuyển dịch. Thí dụ các tia Kα là do các electon nhảy từ mức năng lượng thứ hai (L) về mức năng lượng thứ nhất (K) phát ra, các tia Kβ là do sự chuyển dịch của các electron giữa lớp M và K. Chúng là các bức xạ đơn sắc và gián đoạn. Người ta có thể tạo ra bức xạ này qua sử dụng một thế tăng tốc, các electron trong ống tia X.

Sau khi được tăng tốc các electron từ ngoài vào sẽ có đủ năng lượng để làm bật các electron từ trong 7 Hình 1.2: Tương tác của electron với mô hình đơn giản của nguyên tử. nguyên tử và tạo ra lỗ trống.2) mô tả các quá trình vật lý khi dòng electron được phóng qua một nguyên tử [2, 69]. Như vậy, ống tia X có khả năng tạo ra cả phổ tia X liên tục (bức xạ hãm hay bức xạ trắng) và phổ tia X gián đoạn (bức xạ đặc trưng hay bức xạ đơn sắc). Các bức xạ tia X đặc trưng được dùng rộng rãi trong các nghiên cứu nhiễu xạ tia X, các bức xạ tia X liên tục được dùng trong XAFS.2 Bức xạ Synchrotron Bức xạ Synchrotron (còn được gọi là bức xạ Magnetobremsstrahlung) đạt được khi các hạt mang điện như electron hay positron chuyển động với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng theo một quỹ đạo xoắn ốc trong từ trường và bắn vào vật thử.

Bức xạ Synchrotron có một số đặc tính cơ bản quan trọng là [75]: (1) Cường độ lớn trong vùng năng lượng rộng, liên tục; (2) Cường độ và vị trí nguồn có độ ổn định cao; (3) Có tính chuẩn trực lớn; (4) Phân cực phẳng, môi trường bức xạ sạch; (5) Cấu trúc thời gian theo xung chuẩn xác, các xung theo micro – giây; (6) Kích thước nguồn nhỏ được xác định qua kích thước của dòng electron.3: Hệ số hấp thụ ϵ(E) có phần cấu trúc tinh tế của hấp thụ tia X Khi chiếu một chùm photon tia X vào vật rắn thì sẽ xảy ra hai quá trình là tán xạ và hấp thụ. Quá trình tán xạ là do photon tia X bị phản xạ trở lại sau khi va chạm với electron lõi hoặc nguyên tử bao gồm tán xạ đàn hồi (tán xạ Rayleigh – do photon tia X va chạm hoàn toàn đàn hồi với electron, sau tán xạ bước sóng tia X không thay đổi) và tán xạ không đàn hồi (tán xạ Compton − do photon tia X va chạm với các electron hoá trị và bước sóng tia X bị thay đổi). Quá trình hấp thụ liên quan đến hiệu ứng quang điện là do các electron lõi hấp thụ photon tia X và chuyển lên mức cao hơn hoặc bắn ra ngoài nguyên tử. Nếu electron bắn ra ngoài nguyên tử thì ta có phổ electron quang PES (Photo Electron Spectrocopy), còn nếu electron quang ở lại trong vật rắn sau khi tán xạ với các nguyên tử lân cận rồi trở lại giao thoa với sóng của quang electron được phát ra từ nguyên tử hấp thụ thì ta thu được phần cấu trúc tinh tế phổ hấp thụ tia X (XAFS).3 Lý thuyết về phổ cấu trúc tinh tế hấp thụ tia X Khi cho một chùm bức xạ điện từ có cường độ I0 đi qua một lớp vật chất, chùm bức xạ sẽ bị hấp thụ một phần, cường độ chùm bức xạ sau khi đi qua là: I = I0 exp(−ϵx), (1.3) I Trong hệ thức (1.2), ϵ là hệ số hấp thụ, x là bề dày lớp vật chất.

Nếu chùm ánh sáng tới là tia X thì sau cận hấp thụ với năng lượng photon là ℏω sẽ xuất hiện phổ cấu trúc tinh tế hấp thụ tia X, Hình (1. Như vậy, hệ số hấp thụ ϵ trong trường hợp XAFS bao gồm hai thành phần, đó là hệ số hấp thụ của một nguyên tử biệt lập và phần cấu trúc tinh tế X của phổ tia X, vì thế hệ số hấp thụ toàn phần sẽ là ϵ(E) = ϵa (E) 1 + χ(E).   Từ đó, phần cấu trúc tinh tế của tia X hay phổ XAFS được viết dưới dạng [2, 62, 63, 68]; ϵ(E) − ϵa (E) χ(E) = .4) ta phải xác định hệ số hấp thụ ϵ(E) khi vật thể tương tác với sóng điện từ đặc trưng bởi thế vecto A ⃗. Hệ số này được tính toán theo quy tắc lọc lựa và có dạng đặc trưng trong gần đúng lưỡng cực [25, 69].5), các hàm sóng |i⟩ và |f ⟩ là hàm riêng của Hamiltonian hiệu dụng ở trạng thái đầu và trạng thái cuối ứng với các mức năng lượng Ei và Ef.

Như vậy electron đã hấp thụ năng lượng ℏω của photon tia X với phân cực e và chuyển từ trạng thái đầu |i⟩ với năng lượng Ei đến trạng thái cuối |f ⟩ với năng lượng Ef. Khi đó, do tính chất đối xứng của hàm sóng 10 mà các yếu tố của ma trận dịch chuyển đối với các số lượng tử của trạng thái đầu (li , mi ) và trạng thái cuối (lf , mf ) sẽ tuân theo quy tắc lọc lựa là lf = li ± 1, mf = mi , mi = ±1. Từ đây, ta dễ dàng xác định các số lượng tử của trạng thái cuối |f ⟩ vào trạng thái đầu |i⟩ mà thu được các cận hấp thụ khác nhau. Biến đổi tiếp hệ thức (1.5) và biểu diễn nó qua ma trận mật độ n hay hàm Green G của toàn hệ [42].

π Đối với cận hấp thụ nhất định thì trạng thái |i⟩ bao giờ cũng được biết trước, cho nên để đánh giá hệ số hấp thụ µ hay phổ cấu trúc tinh tế χ, người ta chỉ cần xây dựng trạng thái cuối |f ⟩ hay hàm Green G của toàn hệ. Quang phổ XAFS nói chung xuất hiện trong khoảng 40 − 1000 eV sau cận hấp thụ. Trong quá trình nghiên cứu người ta còn phân ra nhiều lý thuyết XAFS khác nhau như EXAFS (Extended XAFS) khi động năng của quang electron E > 50 eV; XANES (X - Ray Absorption Near-Edge Structure) và NEXAFS (Near-Edge XAFS) khi E < 50 eV, tức là cấu trúc gần cận hấp thụ. Ngoài ra, đối với vùng mặt tinh thể còn có các lý thuyết như SXANES (Surface XANES) và SEXAFS (Surface EXAFS) [74].

Trong lịch sử nghiên cứu về phương pháp XAFS đã tồn tại hai cách lý luận là mức độ xa (LRO: Long Range Order) và mức độ gần (Short Range Order) [2, 31, 71]. Đối với lý luận mức độ xa LRO, các phổ XAFS được đặc trưng bởi mật độ trạng thái của trạng thái cuối, nó được xác định qua cấu trúc vùng năng lượng, quãng đường chuyển động tự do của quang electron lớn vô hạn và sự phụ thuộc vào năng lượng của xác suất chuyển dịch bị bỏ qua. Đối với mức độ gần SRO các phổ XAFS được đặc trưng qua trạng thái cuối, nó bao gồm các hiệu ứng tán xạ bởi các nguyên tử lân cận và tán xạ 11 ngược trở lại nguyên tử hấp thụ ban đầu, thời gian sống của quang electron cũng như lỗ trống ở tâm lõi do quang electron để lại được tính qua quãng đường dịch chuyển tự do, các hiệu ứng dao động nhiệt của các nguyên tử được tính qua hệ số Debye – Waller (DWF). Các lý thuyết LRO và SRO cho các tiên đoán giống nhau về các phổ XAFS và sự phụ thuộc của chúng vào nhiệt độ vì mật độ trạng thái của trạng thái cuối cũng xuất hiện qua tán xạ của các electron bởi các nguyên tử lân cận.

Tuy nhiên các phát triển của phương pháp XAFS, lý thuyết SRO có nhiều ưu điểm do việc chuyển hàm Fourier các phổ XAFS để nhận được các thông tin về cấu trúc nguyên tử của vật rắn. Ngoài ra, khi tính toán các phổ XAFS người ta sử dụng các tham số của nguyên tử và vật rắn, cho nên khi so sánh các phổ lý thuyết với phổ thực nghiệm thì người ta sẽ nhận thông tin về các tham số này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu về ảnh hưởng của hiệu ứng phi điều hòa và áp suất lên các đại lượng nhiệt động của tinh thể là một hướng nghiên cứu vật lý chất rắn quan trọng, giúp làm sáng tỏ bản chất vi mô của vật liệu dưới các điều kiện cực đoan. Hiệu ứng phi điều hòa mô tả sự sai lệch của dao động mạng tinh thể so với mô hình điều hòa lý tưởng, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng lượng tự do Helmholtz, entropy và nhiệt dung riêng. Áp suất cao làm thay đổi thể tích ô mạng, kéo theo sự biến đổi của các thông số nhiệt động theo chiều hướng phi tuyến. Nghiên cứu này đặc biệt có giá trị khi đối chiếu với các hệ vật liệu phức tạp hơn — ví dụ, tìm hiểu thêm về ảnh hưởng áp suất lên tính chất điện trong hợp kim đa thành phần sẽ giúp người đọc xây dựng góc nhìn toàn diện về vai trò của áp suất trong vật lý chất rắn hiện đại.