CHƯƠNG 1 Chương đầu tiên đã trình bày mục tiêu tổng quát của việc nghiên cứu, đó là đánh giá ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản lên lợi nhuận của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam. Ngoài ra, tác giả đã thảo luận về những vấn đề như việc xác định đối tượng, phạm vi, phương pháp và nội dung nghiên cứu, và những đóng góp của nó. Dựa trên những nền tảng kiến thức này, chương tiếp theo sẽ giới thiệu những khái niệm và lý thuyết liên quan, cũng như tổng quan các nghiên cứu trước đây có trong và ngoài nước. TỔNG QUAN VỀ CÁC LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Tổng quan về thanh khoản và rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại Khái niệm về thanh khoản “Thanh khoản” là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế và tài chính.
Tùy thuộc vào ngữ cảnh của từng tình hình kinh tế mà có những định nghĩa khác nhau. Dưới đây là một số ý nghĩa đặc trưng về thanh khoản: Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008), thanh khoản được định nghĩa là khả năng của ngân hàng tài trợ cho việc gia tăng tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không gây ra tổn thất không thể chấp nhận được. Njeri (2014) thì cho rằng: “thanh khoản là thuật ngữ được sử dụng để mô tả mức độ dễ dàng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt”. Trong đó, tiền mặt được coi là tài sản có tính thanh khoản cao nhất khi được so sánh với các loại tài sản khác.
Trong những giai đoạn khủng hoảng kinh tế hoặc tình huống khẩn cấp, tiền mặt trở nên vô cùng quan trọng khi có thể giải quyết được nhu cầu cấp thiết. Theo Pradhan & Shrestha (2016), thanh khoản của một ngân hàng liên quan đến khả năng luôn đảm bảo có đủ nguồn vốn để thanh toán các cam kết tài chính hoặc nghĩa vụ tài chính đến hạn với một mức giá phù hợp vào bất kỳ thời điểm nào. Nhìn tổng quát, thanh khoản là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình hoạt động của ngân hàng, nó cho thấy khả năng thanh toán tài chính đúng hạn của ngân hàng, bao gồm việc tiếp nhận tiền gửi từ khách hàng, cho vay, và rút tiền, mà mức phí phải ở mức chấp nhận được. Trường hợp ngân hàng không thể thực hiện các nghĩa vụ tài chính đúng hạn hoặc thanh toán, hậu quả có thể là những tổn thất, thiệt hại do chi phí cao, điều này sẽ dẫn đến rủi ro về thanh khoản.
Khái niệm về rủi ro thanh khoản 11 Như khái niệm đã nêu trên, thanh khoản của ngân hàng là khả năng đáp ứng kịp thời nhu cầu rút tiền của người gửi tiền hoặc giải ngân các khoản vay khi đến thời hạn mà không phát sinh những chi phí hoặc tổn thất không chấp nhận được. Do đó, “rủi ro thanh khoản là rủi ro các tổ chức tín dụng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ đến hạn hoặc có khả năng nhưng phải trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó” theo quy định của Thông tư số 08/2017/TT-NHNN ngày 01/8/2017 của Ngân hàng Nhà nuớc Việt Nam. Khi ngân hàng không còn khả năng thanh toán hoặc buộc phải tìm kiếm thêm vốn từ những nguồn có mức chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán, chúng ta gọi đó là rủi ro thanh khoản (Đặng Văn Dân, 2015). Duttweiler (2021) cũng định nghĩa rủi ro thanh khoản là tình huống mà ngân hàng không thể hoàn thành nghĩa vụ thanh toán của mình hoặc phải chịu chi phí cao để thu thập vốn để đáp ứng nhu cầu thanh toán.
Việc này có thể làm ảnh hưởng xấu đến tình hình hoạt động tài chính của tổ chức tín dụng. Theo Ruozi & Ferrari (2013), Drehmann & Nikolaou (2013) và Iskandar (2014) phân loại rủi ro thanh khoản thành hai loại; cụ thể là rủi ro thanh khoản thị trường và rủi ro thanh khoản tài trợ. Trong đó, rủi ro thanh khoản tài trợ được hiểu là tình huống mà ngân hàng không thể bán tài sản của mình hoặc không có nguồn tài trợ nào khác để trả các khoản nợ đã đến hạn. Trong khi đó, rủi ro thanh khoản thị trường xảy ra khi thị trường bị gián đoạn, tức là không có đủ thông tin và ngân hàng buộc phải giảm giá thị trường để bù đắp rủi ro.
Dựa trên các khái niệm đã nêu, RRTK có thể được diễn giải là nguy cơ phát sinh khi ngân hàng không thể thực hiện đúng hạn các nghĩa vụ tài chính, trục trặc với việc chuyển đổi các tài sản đang nắm giữ thành tiền mặt một cách kịp thời hoặc phải đi vay liên ngân hàng với lãi suất cao. Rủi ro thanh khoản có thể tác động không tốt đến lòng tin của khách hàng và uy tín của ngân hàng. Do đó, việc quản lý RRTK trở thành mối quan tâm lớn đối với các NHTM để đảm bảo có đủ tiền mặt để 12 đáp ứng như cầu rút tiền của khách hàng hoặc trả các khoản lãi tiền gửi của khách hàng mà không phải chịu chi phí quá cao.1 Các nguyên nhân xảy ra rủi ro thanh khoản Có thể nhận thấy rằng, rủi ro thanh khoản có thể bắt nguồn từ nhiều yếu tố, nhưng hai nguyên nhân quan trọng nhất cần được chú ý đến là nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan (Nguyễn Hải Long, 2017). Nguyên nhân chủ quan gây ra rủi ro thanh khoản bao gồm: sự chênh lệch giữa kỳ hạn tiền gửi và kỳ hạn hạn các khoản cho vay; sự mất cân đối trong cấu trúc tài sản; việc xác định mục tiêu khách hàng không phù hợp; chính sách cho vay ưu đãi mà không xem xét đầy đủ rủi ro; khả năng tài chính của từng ngân hàng; và hậu quả của các rủi ro khác (Nguyễn Văn Tiến, 2010; Trần Huy Hoàng, 2011).
Bonfim và cộng sự (2012) chỉ ra rằng, để đạt được mục tiêu lợi nhuận, ngân hàng thường sử dụng nguồn vốn từ tiền gửi có kỳ hạn ngắn để cung cấp tín dụng trung và dài hạn. Điều này đã tạo ra sự không khớp về kỳ hạn và là lý do khiến các ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản. Ngoài ra, việc tăng đầu tư vào danh mục có mức độ rủi ro cao để có tỷ suất sinh lời cao cũng là nguyên nhân dẫn tới rủi ro thanh khoản. Nguyên nhân khách quan gây ra rủi ro thanh khoản bao gồm: tài sản tài chính thường phản ứng mạnh với những biến động của lãi suất, điều này có thể ảnh hưởng đến tâm lý của khách hàng; chính sách tiền tệ và những thay đổi bất ngờ của nền kinh tế; chu kỳ kinh doanh của khách hàng; và tin đồn không chính xác (Trần Huy Hoàng, 2011; Nguyễn Hải Long, 2017).
Bất cứ thông tin nào liên quan đến vấn đề thanh khoản của ngân hàng sẽ ngay lập tức tác động đến tâm lý của người dân, hậu quả là người dân sẽ rút tiền gửi, đe dọa đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Ngoài ra, theo chu kỳ kinh doanh, vào cuối năm, nhu cầu vốn của các doanh nghiệp thường tăng cao để đẩy mạnh sản xuất và thanh toán công nợ cuối năm. Tuy nhiên, vào thời điểm này, các NHTM thường ít cấp tín dụng do các ràng buộc về tỷ lệ tăng trưởng tín dụng do ngân hàng nhà nước đề ra. Chính vì lý do này mà các 13 doanh nghiệp phải dùng vốn tự để trang trải cho các khoản công nợ, do đó mà khả năng trả nợ ngân hàng có xu hướng bị kéo dài.2 Các phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản Trong quá trình nghiên cứu về rủi ro thanh khoản, các nhà nghiên cứu đã áp dụng nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá.
Trong số đó, hai phương pháp được ưa chuộng và thường xuyên được sử dụng trong các nghiên cứu cả trong và ngoài nước là hệ số thanh khoản và khe hở tài trợ. Cụ thể, các phương pháp này được mô tả như sau: 2.1 Các hệ số thanh khoản Hệ số thanh khoản là công cụ đánh giá khả năng tài chính linh hoạt của các tổ chức ngân hàng, cũng như khả năng chuyển hóa nhanh chóng các khoản đầu tư tài chính thành tiền mặt với chi phí thấp. Cách tính này dựa trên các số liệu từ báo cáo tài chính công khai, rõ ràng của các ngân hàng. Các hệ số thanh khoản bao gồm: 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝐿1 = × 100(%) 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Chỉ số L1 này cho thấy tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản, cho thấy khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Thông thường, việc nắm giữ tài sản có khả năng thanh khoản cao thường ngân hàng sẽ phải chấp nhận chi phí cơ hội lớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động. Vì vậy, việc tối ưu hóa lợi nhuận ngân hàng và rủi ro thanh khoản là điều cần thiết. Một số nghiên cứu như tác giả (Abbas & cộng sự 2019; Pradhan & Shrestha 2016) đã dùng hệ số này trong đại diện đo luờng RRTK. 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝐿2 = × 100(%) 𝑇𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖 + 𝑉ố𝑛 ℎ𝑢𝑦 độ𝑛𝑔 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 Chỉ số L2, tỷ lệ giữa tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt và tổng số tiền gửi của ngân hàng, là một chỉ số đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng khi khách hàng có yêu cầu rút tiền gửi.
Giống với chỉ số L1, chỉ số càng cao, khả năng 14 đảm bảo tính thanh khoản của ngân hàng càng tốt và đáp ứng được nhu cầu rút tiền đột ngột của người gửi tiền. Các khoản tiền gửi bao gồm tiền gửi cá nhân, tiền gửi của doanh nghiệp và tiền gửi của các tổ chức tài chính khác. Chỉ số này đã được khám phá trong nhiều nghiên cứu như (Chen & cộng sự 2018; Vodova 2013; Salim & Bilal 2016). 𝐾ℎ𝑜ả𝑛 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 𝐿3 = × 100(%) 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 L3 cho biết về tỷ trọng các khoản vay có trong tổng tài sản của ngân hàng.
Vì vậy, tỷ trọng càng cao cho thấy rủi ro thanh khoản càng lớn, bắt nguồn từ việc ngân hàng dùng nguồn tiền huy động cho hoạt động cho vay, khi cần thu hồi các khoản vay sẽ có trường hợp không thu hồi được dẫn đến ngân hàng gặp rủi ro không đủ tiền để tất toán tiền gửi của khách hàng khi đến kì hạn. Các nghiên cứu như của Vodova (2011), Arif và Anees (2012) đã sử dụng hệ số này đại diện cho RRTK. 𝐾ℎ𝑜ả𝑛 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 𝐿4 = × 100(%) 𝐶á𝑐 𝑘ℎ𝑜ả𝑛 𝑡𝑖ề𝑛 𝑔ử𝑖 Chỉ số L4, cho thấy tỷ trọng khoản cho vay với các khoản tiền gửi, thể hiện hai trạng thái thanh khoản của tài sản có tính thanh khoản kém và tài sản có tính thanh khoản cao. Qua đó, khi tỷ số L4 càng cao thì rủi ro thanh khoản cản cao và ngược lại.