Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và thảo luận Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Khái quát chung về nợ xấu Thuật ngữ “nợ xấu” (Non-Performing loans) có thể thay thế được bằng nợ khó đòi Fofack, (2005), hoặc các khoản vay có vấn đề ( Berger và DeYoung, 1997). Nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG) của Liên hợp quốc cho rằng “Về cơ bản, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả đủ từ 90 ngày trở lên được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản nợ quá hạn thanh toán dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng sẽ được thanh toán đầy đủ” Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF - International Monetary Fund) đưa ra định nghĩa về nợ xấu trong đoạn 4.85 của hướng dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc giá (FSIs) như sau: “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng, cho thấy người vay không thể hoàn trả đầy đủ”.
Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được gốc và lãi của các khoản vay thay thế” (IMF’s Compilation Guide on Financial Indicators, 2004). Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS), tổ chức này không đưa ra cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên trong các hướng dẫn về thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng. BCBS xác định việc các khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả ( a default) khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa hiện hành động gì để cố gắng thu hồi ví dụ như giải chấp Chứng khoán( nếu đang nắm giữ); (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (BCBS, 2002), Theo quan điểm về nợ xấu của NHTW Châu Âu (ECB) yêu cầu khả năng so sánh tài sản và định nghĩa để đánh giá mức độ rủi ro giữa các ngân hàng trung ương khu vực đồng Euro.
ECB chỉ định nhiều tiêu chí có thể gây ra phân loại nợ xấu khi nó thực hiện các bài 6 kiểm với các ngân hàng tham gia. ECB đã thực hiện và đánh giá toàn diện và phát triển các tiêu chí để xác định các khoản vay là không hoạt động nếu chúng: - Quá hạn 90 ngày - Không tuân thủ các chi tiết kế toán cụ thể cho các ngân hàng GAAP và Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế ( IFRS) của Hoa Kỳ - Có nguy cơ vỡ nợ theo Quy định yêu cầu vốn( the Capital Requirements Regulation) Nợ xấu (NPLS) đã trở thành một vấn đề đáng báo động trong vài thập kỷ trước do các đặc điểm riêng của nó. Điều thú vị hơn, nợ xấu đang phát triển đáng sợ không chỉ ở các quốc gia đang phát triển và kém phát triển mà còn ở các nước tiên tiến (Kjosevski & Petkovski, 2017; Saif-alyousfi et al. Nợ xấu theo quan điểm ở Việt Nam: Theo Khoản 8 Điều 3 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro của NHNN Việt Nam thì: Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).
Trong đó: – Nợ nhóm 3: thời gian quá hạn từ 90 – 180 ngày. – Nợ nhóm 4: thời gian quá hạn từ 181 – 360 ngày. – Nợ nhóm 5: thời gian quá hạn trên 360 ngày. Các tài liệu trước đó đã đề cập đến hai bộ các yếu tố khiến nợ xấu qua khoảng thời gian.
Bộ đầu tiên là các yếu tố nội bộ được coi là các biến cụ thể của ngân hàng có thể dễ dàng được kiểm soát bởi quản lý hiệu quả của các ngân hàng tương ứng. Bộ khác là các yếu tố bên ngoài như hoàn cảnh kinh tế vĩ mô, không thể được kiểm soát bởi quản lý của các ngân hàng trực tiếp nhưng tỷ lệ rủi ro có thể được giảm bằng cách thực hiện hành động theo kế hoạch đúng đắn. Khái niệm “nợ xấu” Non-Performing Loan (NPL) hiện nay không hoàn toàn thống nhất ở các quốc gia và mỗi nền kinh tế dưới góc nhìn của các cá thể khác nhau. Các tiêu chí đo lường nợ xấu 2.
Phân loại nợ Việc phân loại nợ giúp cho các ngân hàng căn cứ vào các tiêu chuẩn định tính và định lượng để có thể đánh giá mức độ rủi ro khác nhau của các khoản vay cũng như là điểm giống nhau giữa các khoản vay để từ đó có thể lập một mức dự phòng rủi ro để đề phòng trước những rủi ro có thể xảy ra trong thực tế. Trên cơ sở đó nhằm phân loại các khoản nợ vào các nhóm thích hợp. Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp cho các ngân hàng có thể kiểm soát được chất lượng danh mục ở khác khoản cho khách hàng vay và trong những trường hợp cần thiết sẽ đưa ra những biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong chất lượng tín dụng các danh mục cho vay. Việc phân loại nợ gây nhiều khó kahwns về mặt pháp lý ở từng quốc gia khác nhau, tuy nhiên nó giúp cho các quốc gia có sự lựa chọn rất đa dạng cho hệ thống phân loại và lập dự phòng ( BCBS, 2006).
Theo Viện Tài chính quốc tế ( Institute of International Finance: IIF), cụ thể ở mục 15 “Xử lý nợ xấu trong thống kê kinh tế vĩ mô” (The Treatment of Nonperforming Loans in Macroeconomic Statistics, 2001), tác giả Adriaan M.Bloem và Cornelis N.Gorter đã đề cập đến cách phân loại nợ của IIF thành 5 nhóm. Đây được xem là một trong những cách phân loại nhóm nợ được sử dụng rộng rãi nhất. Trong đó, nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4,5. - Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn (Standard): Là các khoản thanh toán gốc và lãi đều nằm trong hạn.
Đồng thời không có xuất hiện khó khăn nào trong việc thanh toán các khoản vay và dự báo có thể hoàn trả nợ đầy đủ theo cam kết. - Nhóm 2: Nợ cần chú ý (Watch): Là các khoản nợ trong tình trạng có nguy cơ không thanh toán đầy đủ nếu không có những biện pháp xử lý. Do đó, các ngân hàng cần chú ý đến các khoản ở nhóm nợ này nhiều hơn bình thường. - Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn (Substandard): Là các khoản nợ bị nghi ngờ về khả năng thanh toán đầy đủ cả gốc và / hoặc lãi đã quá hạn 90 ngày.
Những tài sản đảm bảo của các khoản nợ bị giảm giá trị có thể dẫn đến những tổn thất xảy ra nếu không có những biện pháp xử lý kịp thời. - Nhóm 4: Nợ nghi ngờ (Doubtful): Là khoản nợ được xác định là không thể thu hồi được gốc và/hoặc lãi đã quá hạn trên 180 ngày. Tuy nhiên, khoản nợ thuộc nhóm này được coi là giảm giá trị nhưng vẫn chưa hẳn là mất vốn hoàn toàn vì vẫn còn những 8 yếu tố có thể cải thiện được chất lượng của khoản nợ như sáp nhập, tài trợ mới hoặc tiếp vốn - Nhóm 5: Nợ mất vốn (Loss): Là khoản nợ được cho là không còn khả năng thu hồi khi gốc và /hoặc lãi đã quá hạn trên 1 năm. Tại Việt Nam, Văn bản hợp nhất 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014 quyết định về quy định phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD do NHNN Việt Nam ban hành: Bảng 2: Phân loại nhóm nợ theo phương pháp định lượng Nhóm nợ Phân loại theo phương pháp định lượng ( Số ngày quá hạn) 1 Dưới 10 ngày 2 Từ 10 đến 90 ngày 3 Từ 91 ngày đến 180 ngày 4 Từ 181 ngày đến 360 ngày 5 Trên 360 ngày Nguồn: Tổng hợp của tác giả Phân loại nhóm nợ theo phương pháp định tính - Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. - Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi. - Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao.
- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Các chỉ tiêu đo lường nợ xấu 2. Tỷ lệ nợ xấu ___ „ Nợ xấu nhóm 3,4,5 Tỷ lệ nợ xấu = —7------ -------------* 100% Tong dư nợ cho vay Đây được xem là chỉ tiêu quan trọng và chủ yếu nhất được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng và mức độ rủi ro của danh mục cho vay tại các NHTM. Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng mà một ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đồng bị đánh giá là nợ xấu.
Nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 3% thì ngân hàng được xem là có chất lượng tín dụng tốt, tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn. Khi ngân hàng gặp vấn đề trong quản lý chất lượng các khoản vay từ việc không thu hồi được nợ từ các khách hàng thì tỷ lệ nợ xấu có tình trạng tăng cao hơn trung bình ngành và có chiều hướng tăng lên. Ngược lại, khi tỷ lệ này thấp hơn so với trung bình ngành và có chiều hướng giảm có nghĩa là ngân hàng đang quản lý chất lượng các khoản vay tốt.