Chương 1, nghiên cứu đã trình bày tính cấp thiết của đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu chung cũng như từng mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu của đề tài nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA THU NHẬP NGOÀI LÃI ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Cơ sở lý thuyết về thu nhập ngoài lãi của ngân hàng thương mại 2. Thu nhập của ngân hàng thương mại Các khoản thu nhập của NHTM được tạo ra từ nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng.
Trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, thu nhập của ngân hàng được chia thành sáu khoản mục lớn là thu nhập từ hoat động tín dụng, thu nhập từ hoat động dịch vụ, thu nhập từ hoat động kinh doanh ngoại hối, thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác, thu nhập góp vốn mua cổ phần và thu nhập khác. Khi phân tích đánh giá hoạt động của NHTM, tùy theo mục đích của nghiên cứu, các nhà phân tích thường sẽ lựa chọn tiêu chí để phân loại. Trong khuôn khổ luận văn về đề tài tác động của thu nhập ngoài lãi lên rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của NHTM, tác giả tham khảo cách phân loại thu nhập của NHTM thành hai loại là thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi. Tiêu thức phân loại này nhằm đánh giá mức độ đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và phân tán rủi ro của NHTM hay để đánh giá mức độ tăng trưởng hoạt động dịch vụ ngoài tín dụng của một ngân hàng theo thời gian hoặc giữa các ngân hàng trong hệ thống với nhau.
Thu nhập từ lãi là khoản thu từ nghiệp vụ tín dụng. Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM. Đóng vai trò là cầu nối giữa người có tiền nhàn rỗi và người có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế, NHTM hưởng lợi nhuận từ khoản chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Sự chênh lệch này được gọi là thu nhập ròng từ lãi cho vay (Net Interest Income) hay được gọi là thu nhập từ hoạt động tín dụng (Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền, 2010).
Đối với NHTM, lãi cho vay chính là nguồn thu nhập chính, có ảnh hưởng quyết định đến kết quả kinh doanh của ngân hàng, phản ánh hiệu quả trong việc sử dụng vốn của ngân hàng. 8 Thu nhập ngoài lãi là khoản thu nhập của NHTM được hình thành từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt động tín dụng, thực hiện hoạt động kinh doanh, đầu tư và chi phí bỏ ra để thực hiện các sản phẩm dịch vụ cũng như các hoạt động kinh doanh, đầu tư. Khoản thu nhập này gọi là thu nhập ngoài lãi cho vay (Non-Interest Income) hay thu nhập từ hoạt động ngoài tín dụng (Hoàng Ngọc Tiến và cộng sự, 2010). Thu nhập ngoài lãi bao gồm các khoản thu từ việc ngân hàng đầu tư chứng khoán, góp vốn, mua cổ phần với các tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế; thu từ kinh doanh vàng bạc, đá quý, ngoại tệ, các khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán của vàng bạc đá quý và ngoại tệ; thu từ phí hoa hồng, các dịch vụ ngân hàng khi NHTM đứng ra làm trung gian thanh toán, thu chi hộ, ủy thác, tư vấn, bảo lãnh, cho thuê các phương tiện cất trữ… cho doanh nghiệp và cá nhân; thu tiền thừa quỹ, thừa tài sản hoặc thu nợ vay của khách hàng sau khi đã xóa được nợ… (Võ Xuân Vinh và cộng sự, 2015).
Như vậy trong khuôn khổ luận văn này, thu nhập của NHTM sẽ bao gồm thu nhập từ lãi là khoản mục thu nhập từ hoạt động tín dụng và thu nhập ngoài lãi là năm khoản mục (thu nhập từ hoat động dịch vụ, thu nhập từ hoat động kinh doanh ngoại hối, thu nhập từ hoat động kinh doanh khác, thu nhập góp vốn mua cổ phần, thu nhập khác) trên trên báo cáo kết quả kinh doanh ngân hàng. Lợi ích của thu nhập ngoài lãi mang lại cho ngân hàng thương mại Các NHTM Việt Nam đang ngày càng tập trung nguồn lực vào các hoạt động tạo thu nhập ngoài lãi trong bối cảnh hoạt động tín dụng có nhiều rủi ro, nguồn thu từ hoạt động tín dụng chưa thật sự ổn định. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi càng lớn thể hiện mức độ đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khác ngoài tín dụng cũng như hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ này trong NHTM (Hoàng Ngọc Tiến và cộng sự, 2010). Các ngân hàng sẽ tận dụng có hiệu hiệu quả nguồn nhân lực, từ đó giảm chi phí quản lý, chi phí hoạt động, tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Đồng thời tăng thu nhập ngoài lãi cũng có tác dụng phân tán và giảm rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng (Lê Long Hậu và cộng sự, 2015). Về lý thuyết, việc đa dạng hóa nguồn thu nhập, tăng tỷ lệ thu nhập ngoài 9 lãi trong cơ cấu tổng thu nhập có thể tạo ra nguồn thu nhập ổn định hơn nguồn thu từ hoạt động tín dụng cho ngân hàng (Odesanmi và Wolfe, 2007). Ngược lại, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi còn thấp thì thể hiện hạn chế của ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, hay đơn giản là ngân hàng chỉ tập trung vào hoạt động tín dụng truyền thống mà thôi. Dưới áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng của các TCTD, sự hiểu biết, nhu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng cũng như sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ hiện đại, các NHTM đang ra sức mở rộng danh mục các sản phẩm dịch vụ tài chính để cung cấp cho khách hàng.
Với việc đa dạng hóa thu nhập, mở rộng các hoạt động phi truyền thống ngoài lãi, các NHTM có thể cạnh tranh trên phân khúc thị trường rộng hơn, kiếm được thu nhập ngày càng nhiều hơn, từ đó giảm bớt sự phụ thuộc vào tín dụng, vốn là hoạt động có nhiều rủi ro của NHTM. Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại 2. Rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại Trong nền kinh tế, của cải không được phân phối đồng đều, có những tổ chức và cá nhân có nhiều tiền hơn nhu cầu trong khi lại có những người có ít hơn. Kết quả là dẫn đến sự tồn tại của thị trường tiền tệ mà trong đó, các ngân hàng đóng vai trò quan trọng là trung gian tài chính giữa người cho vay và người đi vay.
Ngân hàng huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối lại để cung cấp tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và cá nhân đang cần hỗ trợ tài chính. Đây chính là nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ sinh lời lớn nhất thông qua lãi cho vay đồng thời cũng là nghiệp vụ nhiều rủi ro nhất của ngân hàng thương mại. Theo định nghĩa của Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision - BCBS), rủi ro tín dụng được định nghĩa theo truyền thống là rủi ro mất mát từ một người vay hoặc đối tác không trả được số tiền còn nợ (gốc hoặc lãi) cho ngân hàng một cách kịp thời dựa trên lịch thanh toán đã thỏa thuận trước đó. Theo định nghĩa toàn diện, rủi ro tín dụng thực sự sẽ bao gồm rủi ro giá trị, tức là rủi ro mất giá trị từ một người đi vay chuyển sang xếp hạng tín dụng thấp hơn (chi phí 1 cơ hội của việc không định giá cho vay chính xác cho mức độ rủi ro mới) mà không bị vỡ nợ.
Để bảo vệ ngân hàng chống lại sự biến động về mức độ tổn thất mặc định hay giá trị (cũng như các loại rủi ro khác), các ngân hàng đã áp dụng các phương pháp cho phép định lượng các rủi ro đó và từ đó lấy được số vốn cần thiết để đảm bảo duy trì đủ nguồn vốn bù đắp cho các khoản lỗ có thể phát sinh từ những rủi ro mà ngân hàng đang nắm giữ. Theo Ngân hàng Trung ương châu Âu, rủi ro tín dụng là rủi ro mà người đi vay không thanh toán được một phần hoặc toàn bộ khoản vay khi đáo hạn. Altman và Sabato (2007) cho rằng cơ bản rủi ro tín dụng được hiểu là khả năng của khách hàng không có đủ nguồn lực để hoàn trả các khoản thanh toán khi đến hạn. Duffie và Singleton (2003) có cách hiểu tương tự như Altman về rủi ro tín dụng, tác giả định nghĩa rủi ro tín dụng là xác suất vỡ nợ hoặc giảm giá trị trên thị trường gây ra bởi sự dao động trong chất lượng tín dụng của ngân hàng hoặc người đi vay.
Nói cách khác, rủi ro tín dụng được các học giả chấp nhận rộng rãi là giảm chất lượng tín dụng của người vay. Altman et alx (1998) nói rằng mọi khách hàng và mọi giao dịch đều mang yếu tố rủi ro tín dụng. Có nguy cơ người đi vay có thể không trả tiền hoặc khoản thanh toán đó sẽ xảy ra ngoài điều khoản giao dịch của ngân hàng và khách hàng. Cả hai đều có tác động trực tiếp đến dòng tiền.
Rủi ro tín dụng được xem xét chủ yếu là rủi ro mà người đi vay không thanh toán được nợ vay. Có một xung đột của rủi ro và lợi ích. Trong thị trường tài chính và các hoạt động thương mại khác, nếu muốn đạt được tỷ suất sinh lời cao thì phải chấp nhận rủi ro nhiều hơn. Chính vì vậy tín dụng mới là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận cao nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất của NHTM.
Bonfim và Kim (2014) cho rằng rủi ro tín dụng là rủi ro khi một phần lãi hay gốc hay cả gốc và lãi của khoản cho vay không được thanh toán như cam kết. Sự tồn tại khả năng cạnh tranh của ngân hàng phụ thuộc hầu hết vào năng lực quản lý rủi ro tín dụng để sinh lời. Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà Nước dựa trên Hiệp ước vốn Basel II quy định các tỷ lệ an toàn cho hoạt động ngân hàng, ban hành Thông tư 02/2013/TT-NHNN Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử 1 dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.