Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại. Chương 3: Thực trạng các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 4: Dữ liệu, phương pháp, mô hình nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị.7 Ý nghĩa nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp ước lượng để nghiên cứu các yếu tố tác động đến nợ xấu của các NHTM Việt Nam. Mục đích tìm ra cơ sở khoa học và các bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Từ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 đó đề xuất các giải pháp giúp cho các nhà hoạch định chính sách của các ngân hàng đưa ra các chính sách phù hợp để khắc phục nợ xấu cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Bên cạnh đó, đề tài chỉ ra những khó khăn cũng như những vấn đề còn tồn tại để mở ra hướng mới cho các nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về nợ xấu của hệ thống NHTM 2.1 Rủi ro tín dụng và các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng 2.1 Tổng quan về tín dụng và rủi ro tín dụng Theo từ điển của Webster's Revised Unabridged (1913): “Niềm tin đã cho đi và nhận lại; niềm mong đợi sự hoàn trả trong tương lai cho tài sản đã chuyển giao hoặc những lời hứa được đưa ra; uy tín thương mại cho phép một chủ thể có được lòng tin của chủ thể khác; các chủ thể có thể bao gồm cá nhân, doanh nghiệp, cộng đồng hay quốc gia, để mua hàng hóa gọi chung là tín dụng”. Theo Luật các tổ chức tín dụng (2010): Tín dụng ngân hàng là việc thỏa thuận để các tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Tóm lại, có rất nhiều khái niệm về tín dụng ngân hàng nhưng nhìn chung đều thể hiện nội dung: việc cá nhân hoặc tổ chức cam kết sử dụng tiền có hoàn trả gốc và lãi bằng các nghiệp vụ tín dụng: cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán trong nước, bao thanh toán quốc tế và các hình thức cấp tín dụng khác.
Đặc trưng cơ bản của tín dụng: sự tín nhiệm; sự hoàn trả và tính thời hạn. Khi một trong hai điểm trên vi phạm sẽ phát sinh rủi ro tín dụng. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2005) thì rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thực thiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn.1 Thông tư 02/2013/TT-NHNN, ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Nói tóm lại, rủi ro tín dụng sẽ phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc lẫn lãi của khoản vay hoặc thu về không đúng hạn như cam kết.2 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng Tăng trưởng tín dụng: nghĩa là tăng quá nhanh, làm cho ngân hàng mất khả năng kiểm soát.
Các chỉ tiêu thể hiện: (i) Tốc độ tăng dư nợ tín dụng / Tốc độ tăng tổng tài sản và (ii) Tốc độ tăng dư nợ tín dụng/ Tốc độ tăng trưởng kinh tế Phát triển cơ cấu tín dụng vào các ngành và lĩnh vực rủi ro: cơ cấu tín dụng chú trọng vảo các ngành có rủi ro cao nhưng ngân hàng không chú trọng hoặc xem nhẹ khi cho vay. Và được phân loại theo lĩnh vực ngành nghề, loại hình cho vay, thời hạn, loại tài sản đảm bảo. Nợ quá hạn: phát sinh khi người vay không trả nợ đúng hạn. Nợ quá hạn phản ánh thông qua chỉ tiêu: (i) Số dư nợ quá hạn/ Tổng dư nợ; (ii) Số khách hàng có nợ quá hạn/ Tổng số khách hàng có dư nợ.
Mức rủi ro tín dụng cao nếu các chỉ tiêu này lớn và ngược lại. Nợ xấu: theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của thống đốc ngân hàng nhà nước thì nợ xấu là nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5. Dự phòng rủi ro tín dụng: Nhằm bù đắp tổn thất khi khách hàng không trả được các khoản nợ cho ngân hàng.2 Nợ xấu của các NHTM 2.1 Các quan điểm về nợ xấu của NHTM và phân loại nợ Các quan điểm về nợ xấu: có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đề cập đến nợ xấu. Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (2005): “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”.
Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: khả năng trả nợvà thời gian trả nợ. Theo tiêu chuẩn kế toán và ngân hàng quốc tế IAS 39: thường đề cập đến khái niệm này như những khoản cho vay bị tổn thất (loans being impaired) hơn là cụm từ “nợ xấu” (non – performing loans). Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV): Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 12/4/2015 của Ngân hàng nhà nước như sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)”. Về việc phân loại nợ: phân thành 5 nhóm: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn.
Tại Việt Nam được quy đinh tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN Điều 10 (phương pháp định lượng) và Điều 11 (phương pháp định tính) Phương pháp định tính Nhóm 1: Các khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn. Nhóm 2: Các khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm về khả năng trả nợ. Nhóm 3: Các khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi. Nhóm 4: Các khoản nợ được đánh giá là khả năng tổn thất cao Nhóm 5: Các khoản nợ được đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
Phương pháp định lượng Nhóm 1: Các khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn. Nhóm 2: Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày. Nhóm 3: Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Nhóm 4: Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày.
Nhóm 5: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. Việc phân loại nợ cho nhiều khoản vay của cùng một khách hàng cũng khác nhau giữa các nước.2 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu Nhóm nguyên nhân khách quan: Môi trường thiên nhiên; Môi trường kinh tế; Môi trường pháp lý; Tín dụng chỉ định của chính phủ; Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của khách hàng; Đạo đức khách hàng. Nhóm nguyên nhân chủ quan: Chính sách tín dụng; Chất lượng cán bộ ngân hàng; Công tác tổ chức kiểm tra, kiểm soát. Các tác động của nợ xấu Nợ xấu tác động đến hoạt động của các NHTM như sau: - Giảm lợi nhuận của ngân hàng: Doanh thu thấp hơn dự kiến do không thu được lãi vay thậm chí khả năng không thu hồi đủ gốc dẫn đến lợi nhuận sụt giảm.
- Ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng: làm chậm quay vòng vốn của ngân hàng. Vì các chi phí luôn tồn tại như: chi phí những khoản tiền gửi, chi phí xử lý nợ xấu. - Giảm uy tín của ngân hàng: Khi ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu vượt quá mức cho phép, sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng từ đó sẽ ảnh hưởng đến lòng tin của những người gửi tiền hay giao dịch. Đối với nền kinh tế: Ảnh hưởng đến việc cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Thêm vào đó, nó sẽ làm cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Các nghiên cứu trước khi nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ nợ xấu đưa ra được các yếu tố nội tại bên trong ngân hàng và các yếu tố vĩ mô.1 Các yếu tố vĩ mô Môi trường kinh tế vĩ mô làm thay đổi khả năng tạo ra giá trị và thu nhập của tổ chức. Các yếu tố của môi trường kinh tế vĩ mô: tăng trưởng GDP, sự mở rộng tín dụng, lãi suất thực, lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, cung tiền (M2), tỷ giá hối đoái. Đề tài này sử dụng các chỉ tiêu: tăng trưởng GDP, lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất cho vay và giá dầu.
Cụ thể như sau: Tổng sản phẩm quốc nội: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong phạm vi một lãnh thổ nhất định trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Nó phản ánh tăng trưởng kinh tế, quy mô kinh tế, trình độ phát triển kinh tế bình quân đầu người, nhằm đánh giá mức độ phát triển và sự thay đổi của một nền kinh tế quốc dân. GDP tăng thể hiện nền kinh tế phát triển, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước tốt, có khả năng thanh toán nợ tốt, từ đó tỷ lệ nợ xấu thấp. Lạm phát: Lạm phát là sự suy giảm sức mua của đồng tiền.