Các yếu tố ảnh hưởng đến thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Luận án các yếu tố tác động tới kskd thành công của nữ doanh nhân tại việt nam, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2018

208
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Sự cần thiết của nghiên cứu

1.2. Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.2.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận án

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Khái quát phương pháp nghiên cứu

1.4.1. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

1.5. Những đóng góp mới của luận án

1.5.1. Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

1.5.2. Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu của luận án

1.6. Bố cục của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KSKD THÀNH CÔNG CỦA NỮ DOANH NHÂN

1.1. Khởi sự kinh doanh của doanh nhân

1.1.1. Khởi sự kinh doanh và doanh nhân

1.1.2. Khái niệm KSKD (entrepreneurship)

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nữ doanh nhân tại Việt Nam

Nữ doanh nhân đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Theo thống kê, có khoảng 95.906 doanh nghiệp do nữ điều hành, chiếm 21% tổng số doanh nghiệp. Đặc biệt, các doanh nghiệp này chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Nữ doanh nhân không chỉ tạo ra việc làm cho bản thân mà còn cho nhiều người khác, góp phần vào sự phát triển kinh tế. Nghiên cứu cho thấy rằng đầu tư vào nữ doanh nhân mang lại lợi nhuận cao hơn so với nam giới. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nhận diện và phân tích các yếu tố quyết định thành công của họ trong khởi sự kinh doanh.

1.1. Tầm quan trọng của nữ doanh nhân

Nữ doanh nhân không chỉ là những người khởi nghiệp mà còn là những người lãnh đạo có khả năng tạo ra giá trị cho xã hội. Họ thường đối mặt với nhiều thách thức trong kinh doanh, từ việc tiếp cận vốn đến việc xây dựng mạng lưới kết nối. Tuy nhiên, sự tự tin và khả năng lãnh đạo của họ đã giúp họ vượt qua những rào cản này. Nghiên cứu chỉ ra rằng nữ doanh nhân có xu hướng sử dụng nhiều lao động nữ hơn, điều này không chỉ tạo ra việc làm mà còn thúc đẩy sự bình đẳng giới trong xã hội.

II. Các yếu tố quyết định thành công của nữ doanh nhân

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố tác động đến thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam. Những yếu tố này bao gồm kỹ năng lãnh đạo, khả năng quản lý thời gian, và chiến lược kinh doanh. Đặc biệt, việc đào tạo và phát triển bản thân là rất quan trọng. Nữ doanh nhân cần trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết để đối phó với thách thức trong kinh doanh. Hơn nữa, sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự nghiệp của họ.

2.1. Kỹ năng lãnh đạo và quản lý

Kỹ năng lãnh đạo là một trong những yếu tố quyết định thành công của nữ doanh nhân. Họ cần có khả năng định hướng và truyền cảm hứng cho nhân viên. Quản lý thời gian cũng là một kỹ năng quan trọng, giúp họ cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân. Nghiên cứu cho thấy rằng những nữ doanh nhân có khả năng quản lý tốt thường đạt được thành công cao hơn trong khởi sự kinh doanh.

2.2. Đào tạo và phát triển bản thân

Đào tạo và phát triển bản thân là yếu tố không thể thiếu trong hành trình khởi nghiệp. Nữ doanh nhân cần tham gia các khóa học, hội thảo để nâng cao kiến thức và kỹ năng. Việc này không chỉ giúp họ tự tin hơn mà còn mở ra nhiều cơ hội mới trong kinh doanh. Nghiên cứu cho thấy rằng những nữ doanh nhân có trình độ học vấn cao thường có tỷ lệ thành công cao hơn.

III. Thách thức trong khởi sự kinh doanh

Mặc dù có nhiều cơ hội, nữ doanh nhân vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình khởi sự kinh doanh. Những thách thức này bao gồm việc tiếp cận vốn, định kiến xã hội và sự thiếu hụt mạng lưới hỗ trợ. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chuyển mình, nữ doanh nhân cần phải linh hoạt và sáng tạo để vượt qua những khó khăn này. Nghiên cứu cho thấy rằng sự tự tin và khả năng thích ứng là rất quan trọng trong việc đối phó với các thách thức.

3.1. Tiếp cận vốn

Tiếp cận vốn là một trong những thách thức lớn nhất mà nữ doanh nhân phải đối mặt. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nữ doanh nhân thường gặp khó khăn hơn trong việc vay vốn từ ngân hàng so với nam giới. Điều này có thể do định kiến giới và thiếu hụt thông tin. Để vượt qua rào cản này, nữ doanh nhân cần tìm kiếm các nguồn tài chính thay thế và xây dựng mối quan hệ với các nhà đầu tư.

3.2. Định kiến xã hội

Định kiến xã hội cũng là một thách thức lớn đối với nữ doanh nhân. Họ thường phải đối mặt với những quan niệm sai lầm về khả năng lãnh đạo và quản lý của phụ nữ. Điều này có thể ảnh hưởng đến sự tự tin và quyết định khởi nghiệp của họ. Để thay đổi điều này, cần có sự hỗ trợ từ cộng đồng và các tổ chức xã hội nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của nữ doanh nhân trong nền kinh tế.

25/01/2025
Luận án các yếu tố tác động tới kskd thành công của nữ doanh nhân tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KSKD THÀNH CÔNG CỦA NỮ DOANH NHÂN 1. Khởi sự kinh doanh của doanh nhân 1. Khởi sự kinh doanh và doanh nhân 1.1 Khái niệm KSKD (entrepreneurship) Khởi sự theo nghĩa tiếng việt là bắt đầu hành động để thực hiện theo kế hoạch (một việc quan trọng).

KSKD theo nghĩa bắt đầu thực hiện một công việc kinh doanh. Khởi sự kinh doanh có thể là mở một doanh nghiệp mới (start a new business) hoặc tạo ra một liên doanh (new venture creation), hoặc tinh thần kinh doanh (entrepreneurship). Một khía cạnh khác, KSKD được định nghĩa là tự làm chủ, tự kinh doanh (self-employment). Trên giác độ nghiên cứu khác nhau, thì KSKD được gắn với các thuật ngữ khác nhau.

KSKD thường gắn với 2 thuật ngữ tương ứng với hai hướng nghiên cứu như sau: - KSKD là một sự lựa chọn nghề nghiệp (self-employment). Theo hướng nghiên cứu này KSKD là một sự lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ rủi ro tự làm chủ công việc kinh doanh của mình và thuê người khác làm công cho mình. - Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh, khởi sự kinh doanh gắn với thuật ngữ “entrepreneurship – tinh thần kinh doanh” các nghiên cứu trong lĩnh vực này được nhiều các nhà nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau. Jennings (1994) định nghĩa KSKD bao gồm bất kỳ nỗ lực nào của con người để thử một cái gì đó mới.

Các định nghĩa về KSKD của Schumpeter (1961) và Kirzner (1973, 1979) chú trọng đến sự đổi mới, xác định cơ hội, tạo ra sự giàu có, tăng trưởng cho nền kinh tế. Phù hợp với ý tưởng KD của Schumpeter và Kirzner, Murray (1938) cũng mô tả KSKD là một quá trình năng động được tạo ra và quản lý bởi một cá nhân. Vanderwerf và Brush (1989) trong việc xem xét 25 định nghĩa về KSKD cho thấy rằng KSKD đã được định nghĩa là một hoạt động KD bao gồm một số hành vi con người sau đây: thứ nhất là sáng tạo, đó là việc thành lập một DN mới; thứ hai là quản lý chung, đó là hướng quản lý hoặc phân bổ NL cho một DN; thứ ba là đổi mới, đó là việc khai thác thương mại một số sản phẩm, quy trình, thị trường, vật liệu hoặc tổ chức mới; thứ tư là sự chấp nhận rủi ro cao không phổ biến từ những mất mát tiềm tàng hoặc thất bại của một DN; và thứ năm là ý định thực hiện, đó là ý định nhận ra 10 mức tăng trưởng cao và/ hoặc lợi nhuận thông qua tạo lập một DN. Hai khái niệm tự tạo việc làm và tinh thần kinh doanh có sự khác biệt.

Tự tạo việc làm là bắt đầu bằng một công việc kinh doanh tự làm và không làm thuê cho ai. Tinh thần kinh doanh là tạo ra một DN nhưng có thể vẫn đi làm cho một tổ chức khác. Khái niệm KSKD trong nghiên cứu này sử dụng khái niệm với nghĩa tinh thần kinh doanh (entrepreneurship) đó là tạo ra DN mới, sử dụng NL, sản xuất kinh doanh với mục tiêu lợi nhận/tăng trưởng. Từ những nghiên cứu trên về định nghĩa KSKD, trong phạm vi luận án này thuật ngữ KSKD được định nghĩa là một hành động sáng tạo của con người.

KSKD bắt đầu bằng cách tìm kiếm NL và phương tiện tài chính cá nhân để bắt đầu thành lập và vận hành một DN mới. KSKD là một quá trình sáng tạo đòi hỏi phải xác định và nắm bắt được cơ hội KD, tổ chức các NL hiện có để chuyển đổi những cơ hội đó thành sản phẩm hoặc dịch vụ và bán ra thị trường. Qua thời gian, nỗ lực và tài chính, KSKD làm tăng giá trị, kỹ năng cá nhân và lợi ích của xã hội (XH).2 Doanh nhân - Người KSKD (Entrepreneur) Schumpeter (1954) cho rằng doanh nhân là người sáng tạo. Ông lập luận rằng doanh nhân là người tạo ra sự đổi mới, tạo ra sự phát triển thực sự trong nền kinh tế.

Schumpeter là người chú ý nhiều nhất đến doanh nhân sáng tạo. Sự đổi mới ở những doanh nhân làm cho nền kinh tế phát triển. Vì vậy doanh nhân là những người đóng góp hơn so với những người khác vào nền kinh tế nhờ sự đổi mới và thực hiện các kết hợp mới. Sự đổi mới này có thể là tạo ra một sản phẩm mới, một phương pháp sản xuất mới, nắm bắt nguồn cung cấp mới hoặc một tổ chức công nghiệp mới.

Wennekers và Thurik (1999) nhận định những doanh nhân theo quan điểm Schumpeter chủ yếu sở hữu và điều hành DN nhỏ. Kirzner (1979), miêu tả các doanh nhân người Áo như một chuyên gia phân tích, xác định cơ hội và tìm kiếm lợi nhuận. Kirzner cho rằng kiến thức phân bổ không đều giữa các các doanh nhân, và kết quả là thị trường sử dụng NL không hoàn hảo. Sự không phù hợp về kiến thức, thông tin và những khoảng trống mà những người khác chưa nhận thức và khai thác trong hoạt động KD đã biến hành những cơ hội lợi nhuận cho những cá nhân có kiến thức đặc biệt và độc đáo về sự khác biệt của thị trường.

Theo Kirzner, các doanh nhân là những người trong nền kinh tế khai thác những cơ hội lợi nhuận này. Vì vậy doanh nhân là những người nhận ra các cơ hội mang lại lợi nhuận từ những thay đổi không lường trước và thực hiện KSKD. Nhiều nhà nghiên cứu đã đầu tư thời gian và nỗ lực để tạo ra một bức tranh rõ nét 11 về đặc điểm và vai trò của doanh nhân. Một số đặc điểm của doanh nhân được xuất hiện trong các nghiên cứu như sau: Thứ nhất, doanh nhân là người chấp nhận rủi ro.

Cantillon (1755) (trích dẫn Murphy, 1989) nhấn mạnh tầm quan trọng của doanh nhân như là một chuyên gia phân tích, người thực hiện tất cả các trao đổi và chịu rủi ro do mua ở một số mức giá nhất định và bán ở những nơi không chắc chắn. Theo Cantillon, doanh nhân là người thông thái, thông minh và sẵn sàng chấp nhận rủi ro. Các nhà nghiên cứu của Mỹ, Carland và Stewart (1996) cho thấy xu hướng giảm rủi ro vẫn là một khía cạnh quan trọng của tâm lý doanh nhân, và cho rằng chấp nhận rủi ro là một yếu tố cơ bản trong hoạt động KD. Thứ hai, doanh nhân là người sáng tạo.

Quan điểm của Schumpeter về đổi mới KD bắt nguồn từ các lý thuyết cổ điển của các nhà kinh tế như Say và Marshall. Trong các nghiên cứu khác, đổi mới vẫn là một đặc điểm chức năng được xác định thường xuyên của các doanh nhân (Brockhaus, 1982; Gartner, 1990, McClelland, 1961; Timmons, 1978). Timmons (1978) cho rằng sự sáng tạo và đổi mới là những điều kiện vốn có của doanh nhân. Thứ ba, doanh nhân là những người có nhu cầu thành tích cao.

Nhu cầu thành tích cao là một đặc điểm phổ biến khác đã được xác định để mô tả doanh nhân (McClelland, 1961). McClelland (1961) kết luận rằng nhu cầu thành tích cao sẽ ảnh hưởng đến việc tự lựa chọn một vị trí KD. Nhiều nghiên cứu tiếp theo đã cho thấy mối quan hệ tích cực giữa nhu cầu thành tích cao và KSKD (Begley và Boyd, 1986; Davidsson, 1989). Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cho thấy nhu cầu thành tích không phải là biến số quan trọng nhất để dự đoán khả năng KSKD (Hull và cộng sự,1980).

Thứ tư, doanh nhân là những cá nhân tạo nên sự khác biệt (Baron và Shane, 2005; Birley and Muzyka, 2000). Họ biến đổi một ý tưởng đơn giản, không rõ ràng thành một hoạt động KD. Họ có những cách riêng để đối phó với những cơ hội, những trở ngại và không chắc chắn để tạo ra các sản phẩm mới, dịch vụ mới, các tổ chức mới và những cách thức mới để thỏa mãn KH và làm tăng giá trị (Birley và Muzyka, 2000). Doanh nhân tiếp thu và sử dụng các NL để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ, đáp ứng được KH và thị trường.

Giá trị được tạo ra thông qua quá trình chuyển đổi. Doanh nhân biến những ý tưởng của các nhà phát minh thành những sản phẩm thực tế để đáp ứng nhu cầu thị trường. Điều mà các nhà phát minh không thể thực hiện. Thứ năm, Doanh nhân là những cá nhân kết nối với nhau theo một mạng lưới (Zimmerer và Scarborough, 2005) được gọi là mạng lưới XH.

Hạn chế về NL, đặc biệt là nguồn tài chính tạo cho doanh nhân sử dụng mạng lưới XH để có được thông tin, sự 12 ưu đãi, thỏa thuận và hành động. Mạng lưới XH giúp họ có sự hỗ trợ NL cho hoạt động KD. Bên cạnh đó, mạng lưới XH giúp họ có được sự ủng hộ và tư vấn để có sự lựa chọn cơ hội đúng. Nhận thức về doanh nhân là tạo ra và phát triển một DN mới và thành công.

Doanh nhân là nhân tố trung tâm của quá trình KSKD. Quá trình KSKD của doanh nhân là quá trình năng động, xuất phát từ ý chí của doanh nhân để nhận biết cơ hội, chấp nhận rủi ro, tạo giá trị thông qua việc phân bổ các kỹ năng và NL cần thiết. Như vậy, doanh nhân là người nhận ra cơ hội, có khả năng sáng tạo và các kỹ năng thực tiễn để biến cơ hội thành hoạt động KD thông qua thành lập DN mới thành công. Các hướng nghiên cứu KSKD của doanh nhân Với ý nghĩa KSKD là cần thiết đối với tăng trưởng kinh tế, ngày nay có rất nhiều nghiên cứu về KSKD với các mục tiêu và hướng nghiên cứu khác nhau.

Có thể tổng hợp các nghiên cứu KSKD của doanh nhân qua các giai đoạn của quá trình KSKD gồm các giai đoạn sau: dự định KSKD, quyết định KSKD và KSKD thành công. - Các nghiên cứu về dự định KSKD của doanh nhân Các nghiên cứu về dự định KSKD của doanh nhân giải thích các nhân tố tác động đến ý định KSKD. Các nghiên cứu này tập trung giải thích các nhân tố tác động tới nhận thức và nảy sinh ý định KSKD của một cá nhân. Các mô hình nghiên cứu về ý định KSKD được ứng dụng từ mô hình hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) – TPB.

Lý thuyết về hành vi có kế hoạch cho rằng hành vi của con người là kết quả của dự định thực hiện hành vi và khả năng kiểm soát của họ. Mô hình đề xuất 3 nhân tố tác động tới dự định KSKD là chuẩn mực xã hội, thái độ đối với hành vi và cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi (Hình 1. Thái độ đối với hành vi Hành vi Chuẩn mực xã hội Dự định KSKD KSKD Cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Các yếu tố ảnh hưởng đến thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam" tập trung vào những yếu tố quyết định sự thành công của nữ doanh nhân trong bối cảnh kinh tế Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra những thách thức mà họ phải đối mặt, mà còn nhấn mạnh vai trò của các yếu tố như giáo dục, mạng lưới hỗ trợ và khả năng lãnh đạo. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức mà nữ doanh nhân có thể vượt qua rào cản và phát triển sự nghiệp của mình, từ đó tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản trị kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến thành công trong lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo bài viết "Năng suất lao động của giao dịch viên tại quầy giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam", nơi phân tích hiệu quả làm việc trong ngành ngân hàng, một lĩnh vực có nhiều nữ doanh nhân tham gia.

Ngoài ra, bài viết "Luận Văn Thạc Sĩ Về Tạo Động Lực Cho Người Lao Động Tại Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Công Thương" cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về động lực làm việc, một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sự thành công của nữ doanh nhân.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ về tạo động lực cho người lao động tại VNPT Thanh Hóa", nơi đề cập đến các chiến lược tạo động lực cho nhân viên, điều này cũng có thể áp dụng cho nữ doanh nhân trong việc xây dựng đội ngũ và phát triển doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến thành công trong kinh doanh.