Chương 1, tác giả trình bày tổng quan nghiên cứu, bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng. Bên cạnh đó, tính đóng góp của đề tài cũng được trình bày trọng chương này. Thông qua đó xác định cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan để tìm hiểu tại Chương 2. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến tiền gửi tiết kiệm, vai trò của tiền gửi tiết kiệm, một số lý thuyết ảnh hưởng đến quyết định gửi tiết kiệm.
Đồng thời lược khảo các nghiên cứu trước về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của các tác giả ngoài nước, trong nước đã thực hiện qua các giai đoạn khác nhau, làm tiền đề cho phương pháp nghiên cứu đề xuất ở Chương 3. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Qua việc lựa chọn phương pháp tác giả tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu, dựa trên tính kế thừa các nghiên cứu trước và điều kiện thực tiễn tại nơi chọn mẫu nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả đề xuất phương pháp nghiên cứu, lựa chọn các biến và nêu lên giả thuyết đối với từng biến nghiên cứu, làm cơ sở để tính toán, thu thập kết quả và phân tích ở Chương 4. 7 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Dựa trên kết quả thu được, trình bày chi tiết thống kê mô tả, phân tích tương quan giữa các biến và phân tích kết quả nghiên cứu.
Ngoài ra, các kiểm định liên quan cũng được trình bày để xem xét, kiểm định giả thuyết nghiên cứu, kiểm định sự khác biệt đặc điểm cá nhân đáp viên, mục đích làm nền tảng để tác giả đưa ra các thảo luận và đề xuất hàm ý quản trị phù hợp ở Chương 5. Chương 5: Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị Tại chương cuối cùng của luận văn, tác giả trình bày kết luận về vấn đề nghiên cứu, đề xuất hàm ý quản trị dựa trên kết quả nghiên cứu. Nêu lên các mặt hạn chế và những điểm gợi mở của đề tài, từ đó đề xuất các hướng nghiên cứu mới có thể phát triển dựa trên nghiên cứu này. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý luận chung về hoạt động huy động vốn của ngân hàng Theo Bello (2005), hệ thống ngân hàng là trụ cột của trung gian tài chính quốc gia, thông qua việc huy động và phân luồng các nguồn lực tài chính.
Các ngân hàng thực hiện vai trò nòng cốt của mình trong nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các vấn đề về tài chính, tiền tệ thông qua hệ thống thanh toán, tác động đến tỷ giá tiền tệ và cung cấp phương tiện cho thanh toán quốc tế. Hệ thống ngân hàng huy động vốn từ các nguồn tiền nhàn rỗi, chuyển nguồn tiền thặng dư đến các doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu vay vốn hoặc để đầu tư, các ngân hàng trong quá trình này làm tăng lượng tiết kiệm và đầu tư quốc gia (Mordi, 2010). Theo Mohan (2012) huy động tiền gửi là một trong những chức năng quan trọng của hoạt động kinh doanh ngân hàng, là một hành động tất yếu nhằm tăng nguồn lực phục vụ của các ngân hàng. Huy động tiền gửi đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ, đáp ứng cho các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế.
Hiệu quả hoạt động của ngân hàng nằm ở nguồn huy động tiền gửi và khả năng sử dụng tối ưu nguồn tiền này. Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm là một hình thức huy động vốn của các NHTM, ngân hàng sẽ nhận tiền gửi của các cá nhân/tổ chức thông qua việc mở các tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm không kỳ hạn và các hình thức tiền gửi tiết kiệm khác. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ một NHTM nào vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của NHTM. Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau (Nguyễn Đăng Dờn, 2013).2 Cơ sở lý thuyết về tiền gửi tiết kiệm cá nhân 2.1 Khái niệm tiền gửi tiết kiệm Theo Benton và Jame (2005), tiền gửi tiết kiệm là một khoản tiền khách hàng đến gửi vào ngân hàng nhằm để có được một mức lãi suất cố định trong một thời 9 gian cố định.
Vốn huy động bằng tiền gửi tiết kiệm là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân gửi vào ngân hàng , ngân hàng tạm thời quản lý, sử dụng và có trách nhiệm hoàn trả lại cho người gửi. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân/tổ chức được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm mở tại ngân hàng, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm/hợp đồng tiền gửi, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Người gửi tiền là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. Người gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm.2 Phân loại tiền gửi tiết kiệm • Căn cứ theo kỳ hạn gửi Theo Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2012) phân loại theo kỳ hạn gửi, tiền gửi tiết kiệm được phân loại thành tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn bao gồm: kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là một sản phẩm mà ngân hàng cung ứng đề giúp khách hàng có tiền nhàn rỗi muốn gửi vào ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lời nhưng không thiết lập được mục tiêu sử dụng trong tương lai. Khi mở tài khoản này khách hàng có thể gửi tiền và rút tiền ra bất cứ lúc nào. Các giao dịch này không thường xuyên, chủ yếu là giao dịch gửi tiền và rút tiền trực tiếp.
Do tính chất không ổn định nên lãi suất của tiền gửi tiết kiệm này rất thấp. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Đây là khoản tiền tích lũy có tính chất như tiền gửi có kỳ hạn thông thường. Khách hàng gửi vì mục tiêu an toàn và sinh lời.
Chủ yếu là những cá nhân có thu nhập ổn định và thường xuyên, thường là công chức, viên chức hoặc người đã nghỉ hưu. 10 • Căn cứ theo loại tiền gửi Tiền gửi tiết kiệm bằng nội tệ: Là loại tiền gửi tiết kiệm bằng tiền Việt Nam đồng gửi vào ngân hàng và hưởng lãi suất tiền Việt Nam được quy định tại thời điểm gửi tiền. Đây là loại chiếm tỷ trọng chủ yếu của vốn tiền gửi tiết kiệm của các NHTM ở Việt Nam. Tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ: Là loại tiền gửi tiết kiệm bằng Ngoại tệ gửi vào Ngân hàng và hưởng lãi suất ngoại tệ gửi.
Các loại ngoại tệ như chủ yếu được huy động như: USD, EUR,. • Căn cứ theo chủ thể gửi tiền Tiền gửi thanh toán doanh nghiệp: Đây là hình thức gửi tiền phục vụ cho mục đích hoạt động của doanh nghiệp với mức phí thấp và sử dụng tiện lợi. Khoản tiền này giúp doanh nghiệp đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra nhanh chóng nhất thông qua việc thực hiện giao dịch ngân hàng như: Chuyển tiền, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, séc lĩnh tiền mặt… Tiền gửi tiết kiệm của doanh nghiệp: Đây là hình thức mà các doanh nghiệp sử dụng khi có khoản tiền rảnh rỗi chưa dùng đến hoặc khoản tiền đã có kế hoạch sử dụng trong tương lai xa từ vài tháng cho tới vài năm. Tiền gửi tiết kiệm cá nhân: là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.
• Căn cứ theo phương thức trả lãi Tiết kiệm trả lãi sau: là hình thức tiết kiệm trả lãi khi đến hạn. Vào thời điểm đó nếu khách hàng không đến rút vốn và lãi thì tiền lãi được nhập vào vốn và được tái tục thêm một kỳ hạn Tiết kiệm lãi trả trước: là hình thức tiết kiệm trả lãi ngay khi khách hàng gửi tiền. Khi đến hạn khách hàng sẽ được lĩnh phần gốc đúng như số tiền ghi trên thẻ hoặc số tiết kiệm. Tiết kiệm trả lãi định kỳ: là hình thức tiết kiệm trả lãi theo từng kỳ hạn mà khách hàng và NHTM đã thỏa thuận.
Đến kỳ tính lãi, khách hàng có thể rút phần lãi 11 của kỳ đã đăng ký vào bất kỳ ngày làm việc nào của ngân hàng. Nếu khách hàng không lĩnh lãi theo kỳ hạn đã đăng ký thì ngân hàng chỉ thực hiện sao kê tính lãi, hết kỳ tính lãi cuối cùng thì số lãi còn chưa lĩnh được nhập vào gốc. • Theo phương thức nộp gốc Tiết kiệm gửi một lần: là loại hình tiết kiệm mà khách hàng chỉ gửi tiền vào NHTM| một lần cho đến lúc đáo hạn. Với hình thức này ngân hàng không tốn nhiều chi phí quản lý do số dư tài khoản của khách hàng không biến động.
Chính vì vậy mức lãi suất của loại tiền gửi này cao. Tiết kiệm gửi nhiều lần: là hình thức tiết kiệm mà định kỳ đã đăng ký với NHTM, khách hàng gửi vào ngân hàng một số tiền, số tiền gửi từng lần có thể cố định hoặc thay đổi theo khả năng của khách hàng. Lãi suất của loại tiền này thấp hơn lãi suất tiết kiệm thông thường. • Căn cứ theo hình thức gửi tiền Tiền gửi tiết kiệm tại quầy: Đây là hình thức gửi tiết kiệm truyền thống và thường xuyên được thực hiện tại các NHTM, với hình thức này người gửi tiền cần trực tiếp đến ngân hàng, mang theo các giấy tờ cần thiết để làm thủ tục gửi tiết kiệm.
Tiền gửi tiết kiệm trực tuyến: Với sự phát triển công nghệ như hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều có trang web trực tuyến, ứng dụng cài đặt trên điện thoại thông minh.