Chương 1: Giới thiệu đề tài các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng TMCP Việt Nam. Chương 2: Cơ sở lý thuyết các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại. Chương 3: Thực trạng các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng TMCP Việt Nam Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng TMCP Việt Nam Chương 5: Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng sinh lời của các ngân hàng TMCP Việt Nam 1. Ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng TMCP Việt Nam: 1.
Đối với hoạt động của các NHTM Đề tài tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố nội tại đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam với mục đích cung cấp những cơ sở, tiền TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 đề tham khảo cho các nhà quản lý, để từ đó họ có thể đưa ra những chính sách quản lý nhằm nâng cao khả năng sinh lời. Đối với nền kinh tế Như chúng ta đã biết các ngân hàng thương mại đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế. Đó là nơi tập trung các nguồn tiền nhàn rỗi và cung ứng vốn đến nơi thiếu vốn. Nếu hệ thống ngân hàng hoạt động tốt, có hiệu quả cao thì hoạt động của các thành phần trong nền kinh tế cũng thuận lợi, thông suốt.
Do đó, các kết quả của nghiên cứu này trước hết kỳ vọng giúp ích cho các nhà quản lý trong việc cải thiện khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại. Thứ hai, bài nghiên cứu mong muốn thông qua việc cải thiện khả năng sinh lời của ngân hàng sẽ gián tiếp ảnh hưởng lên nền kinh tế. Đóng góp mới của đề tài Đề tài thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố nội tại và khả năng sinh lời của ngân hàng trên mẫu gồm 26 ngân hàng TMCP trong giai đoạn từ năm 2009-2014, trong đó đã khai thác khá đầy đủ các biến nội tại của ngân hàng gồm 10 biến: Log của tổng tài sản (Log A), Phí và hoa hồng thuần/tổng tài sản (FEE/A), Chi phí ngoài lãi/tổng thu nhập (EXP/REV), Cho vay ròng/tổng tài sản (LOAN/A), Tăng trưởng dư nợ (GROWL), Vốn cổ phần thường/tổng vốn cổ phần (CE/E), Tổng vốn cổ phần/tổng tài sản (E/A), Dư nợ/tiền gửi khách hàng (LOAN/DEP), Tài sản liên ngân hàng/nợ liên ngân hàng (IA/IL), Chi phí dự phòng rủi ro/dư nợ cho vay (CHA/L). Ngoài ra, đề tài còn thực hiện nghiên cứu trên mẫu được chia theo quy mô vốn chủ sở hữu lớn, quy mô vốn chủ sở hữu vừa và nhỏ để có thể đưa ra các kết luận cụ thể và phù hợp đối với từng nhóm ngân hàng.
Qua đó, đề tài phát hiện được: - Khả năng sinh lời của các ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu lớn chịu ảnh hưởng bởi 5 biến: Phí và hoa hồng thuần/tổng tài sản (FEE/A), Chi phí ngoài lãi/tổng thu nhập (EXP/REV), Cho vay ròng/tổng tài sản (LOAN/A), Vốn cổ phần thường/tổng vốn cổ phần (CE/E) và Chi phí dự phòng rủi ro/dư nợ cho vay (CHA/L). Trong đó, biến Phí và hoa hồng thuần/tổng tài sản (FEE/A) có tác động đáng kể đến khả năng sinh lời. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Khả năng sinh lời của các ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu vừa và nhỏ chịu ảnh hưởng bởi 5 biến: Chi phí ngoài lãi/tổng thu nhập (EXP/REV), Vốn cổ phần thường/tổng vốn cổ phần (CE/E), Dư nợ/tiền gửi khách hàng (LOAN/DEP), Tài sản liên ngân hàng/nợ liên ngân hàng (IA/IL) và Chi phí dự phòng rủi ro/dư nợ cho vay (CHA/L). Trong đó, biến Chi phí dự phòng rủi ro/dư nợ cho vay (CHA/L) có ảnh hưởng mạnh nhất đến khả năng sinh lời.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁC YẾU TỐ NỘI TẠI ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Giới thiệu chung Chương hai trình bày nền tảng lý thuyết về các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại, trong đó giới thiệu khái niệm về khả năng sinh lời, các tỷ số chủ yếu đo lường khả năng sinh lời, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại. Tiếp đó là lược khảo các nghiên cứu trước đây có liên quan đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại. Nền tảng lý thuyết về các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại: 2.
Khái niệm về khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại: Theo Farrell (1957), hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những kết quả đầu ra đó. Theo Daft (2008), hiệu quả hoạt động là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh. Còn theo Tổ chức xếp hạng năng lực tài chính ngân hàng, dịch vụ đầu tư của Moody: Khả năng tạo ra thu nhập là một yếu tố quyết định sự thành công lâu dài hay thất bại của một tổ chức tài chính. Nó đánh giá khả năng của một ngân hàng để tạo ra giá trị kinh tế bằng cách bổ sung vào nguồn dự trữ của ngân hàng để duy trì hoặc cải thiện khả năng bảo vệ rủi ro cho cổ đông.
Các quan điểm trên nhìn chung đều cho rằng hiệu quả hoạt động là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực của quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Do đó, mục tiêu cơ bản của việc quản lý ngân hàng là đạt được lợi nhuận, là những yêu cầu cần thiết cho hoạt động kinh doanh bất kỳ (Bobáková, 2003, trang 21). Xét ở cấp độ vĩ mô, ngành ngân hàng có khả năng sinh lời bền vững có thể chịu được những cú sốc tiêu cực tốt hơn và góp phần vào sự ổn định của hệ thống tài chính. Bên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 cạnh đó, khả năng sinh lời còn là điều kiện quyết định sự sống còn của ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Do vậy, các NHTM coi khả năng sinh lời là mục tiêu quan trọng hàng đầu của hoạt động kinh doanh. Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại Các chỉ tiêu để đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại gồm: - Giá trị tuyệt đối: Lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế. - Giá trị tương đối: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM)… 2. Lợi nhuận trước thuế: Lợi nhuận trước thuế của ngân hàng thương mại là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng thu nhập và tổng chi phí.
Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập – Tổng chi phí Trong đó: - Thu nhập của ngân hàng thương mại bao gồm: Thu nhập lãi từ hoạt động tín dụng, Thu nhập lãi tiền gửi tại các TCTD, Thu nhập lãi từ đầu tư chứng khoán, Thu nhập phí dịch vụ, Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng, Thu nhập từ các tài sản sinh lời khác bao gồm thu nhập do đầu tư góp vốn mua cổ phần, thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác,… - Chi phí của ngân hàng thương mại bao gồm: Chi phí trả lãi tiền gửi, Chi phí trả lãi tiền vay, Chi phí trả lãi phát hành giấy tờ có giá, Chi phí hoạt động dịch vụ ngân hàng, Chi phí mua bán chứng khoán, Chi phí hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng, Chi phí tiền lương và phúc lợi trả cho nhân viên của ngân hàng, Chi phí khấu hao tài sản vật chất của ngân hàng, Chi phí quản lý, Chi dự phòng tổn thất tín dụng, Chi phí khác (bao gồm chi phí góp vốn mua cổ phần, chi phí cho hoạt động kinh doanh khác. Lợi nhuận sau thuế: Theo Điều 21 Chương IV của Nghị định 57/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì “Lợi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là khoản chênh lệch được xác định bằng tổng doanh thu phát sinh trong kỳ trừ đi tổng các khoản chi phí hợp lý phát sinh trong kỳ bao gồm cả thuế thu nhập doanh nghiệp”. Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập – Tổng chi phí Thuế TNDN = Lợi nhuận trước thuế x Thuế suất thuế TNDN Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - thuế TNDN 2. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) ROA (Return on Asset) là một chỉ số cho thấy khả năng quản lý ngân hàng để tạo ra thu nhập từ tài sản của ngân hàng.
Đây được xem là một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng (Golin, 2001). Còn Tân (2012) cho rằng ROA là chỉ tiêu quan trọng nhất để đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng vì nó cho biết lợi nhuận được tạo ra từ các tài sản mà ngân hàng sở hữu. ROA được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng trong kỳ chia cho bình quân tổng tài sản trong kỳ. Đối với ngành ngân hàng, chỉ số ROA nằm trong ngưỡng từ 1% - 2% cho thấy ngân hàng đó có lợi nhuận tốt và an toàn, còn nếu ROA lớn hơn 2% thì lợi nhuận tốt nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro trong hoạt động.
Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity) phản ánh khả năng của một ngân hàng trong việc sử dụng vốn chủ sở hữu của nó để tạo ra lợi nhuận (Tân, 2012), ROE được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng chia cho bình quân vốn chủ sở hữu trong kỳ. Tuy nhiên, hạn chế của việc sử dụng tỷ lệ ROE là bỏ qua những rủi ro của đòn bẫy: Ngân hàng có đòn bẫy càng cao thì ROE cao hơn và ROA thấp hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.