Lời mở đầu: Trình bày lý do chọn đề tài, các mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chƣơng 1: Trình bày cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh và các yếu tố tác động đến HQHĐKD của ngân hàng. Phần tiếp theo là tổng lược các nghiên cứu liên quan đã được thực hiện trên thế giới và trong nước. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- Trình bày về mô hình lựa chọn để thực hiện nghiên cứu thực nghiệm.
Chƣơng 2: Trình bày tình hình kết quả hoạt động kinh doanh hiện nay của các ngân hàng TMCP Việt Nam đang niêm yết trên thị trường chứng khoán. Thiết kế nghiên cứu: mô hình, mô tả dữ liệu, phương pháp thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu. Phân tích dữ liệu, kiểm định các giả thuyết và mô hình. Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm.
Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp dựa trên kết quả nghiên cứu. Kết luận: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các đóng góp và hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. Tài liệu tham khảo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CÁC YẾU TỐ NỘI TẠI ẢNH HƢỞNG ĐẾN HQHĐKD CỦA NGÂN HÀNG TMCP NIÊM YẾT 1.1 Lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại: 1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại: Ngân hàng thương mại là tổ chức được thành lập theo quy định của Pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận (Giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Trường ĐH Kinh tế TP.
Do đó, có thể nghiên cứu hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại như của một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng cần có chi phí và sẽ đạt được một số kết quả nhất định. Mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra được gọi là hiệu quả. Qua đó, có thể thấy, xét về mặt kinh tế, hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM là đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa từ các hoạt động tín dụng, dịch vụ thanh toán… với chi phí tối thiểu (bao gồm chi phí phải trả cho người gửi tiền và các chi phí hoạt động khác).
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại quyết định trực tiếp đến vấn đề tồn tại và phát triển của ngân hàng. Ngân hàng đạt hiệu quả hoạt động kinh doanh cao sẽ thuận lợi trong công tác huy động vốn nhờ uy tín của ngân hàng tăng lên, khách hàng tin tưởng vào ngân hàng. Ngân hàng có khả năng mở rộng quy mô hoạt động, tạo ra lợi nhuận ngày càng cao, tích lũy nhiều hơn và tiếp tục tạo ra hiệu quả hoạt động kinh doanh ngày càng tăng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- Hoạt động kinh doanh của NHTM càng có hiệu quả cho thấy việc sử dụng hợp lý các nguồn lực để cung ứng các dịch vụ với chi phí càng thấp nhưng chất lượng cao.
Điều này góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Nền kinh tế phát triển sẽ có tác động ngược trở lại, làm cho NHTM hoạt động có hiệu quả hơn.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại: Để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM, thường sử dụng một số chỉ tiêu cơ bản là lợi nhuận và các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của NHTM. Đây là thước đo hiệu quả có được từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàng như hoạt động huy động vốn, cho vay, đầu tư và các hoạt động khác.1 Lợi nhuận của ngân hàng thương mại: Lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM, được xác định qua các chỉ tiêu như sau: (1) Lợi nhuận trước thuế: là chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí. LNTT= Tổng thu nhập –Tổng chi phí (2) Lợi nhuận sau thuế: là phần chênh lệch giữa lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp.
LNST= LNTT – Thuế thu nhập doanh nghiệp (3) Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận giữa kỳ này so với kỳ trước hay giữa thực tế so với kế hoạch.2 Các chỉ tiêu khác đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại: Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đo lường khả năng sinh lời của NHTM gồm: tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM), thu nhập trên cổ phiếu (EPS),. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- (1) Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA): thể hiện hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận. ROA cao thể hiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý. Ngược lại, ROA thấp thể hiện chính sách đầu tư không hiệu quả hay chi phí hoạt động của ngân hàng quá cao.
Tuy nhiên, giá trị ROA quá cao cũng có thể là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang đối diện với nhiều rủi ro do lợi nhuận kỳ vọng quá cao, ngân hàng đang thực hiện các đầu tư mạo hiểm. Lợi nhuận sau thuế ROA = Bình quân tổng tài sản (2) Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE): thể hiện hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Đây là chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập của các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng. Lợi nhuận sau thuế ROE = Tổng giá trị vốn chủ sở hữu (3) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM): đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ các tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất.
Tổng thu nhập từ lãi – tổng chi phí trả lãi NIM= Tổng tài sản có sinh lời bình quân (4) Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM): đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi (chủ yếu là từ nguồn thu phí của các dịch vụ) với các chi phí ngoài lãi ngân hàng phải chịu. Tổng thu nhập ngoài lãi – tổng chi phí ngoài lãi NNIM= Tổng tài sản có sinh lời bình quân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- (5) Thu nhập trên mỗi cổ phiếu: đo lường thu nhập của các cổ đông ngân hàng tính trên mỗi cổ phiếu hiện hành. Lợi nhuận sau thuế - LNST cổ phiếu ưu đãi được hưởng EPS= Tổng số cổ phiếu thường hiện hành 1.2 Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây về các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thƣơng mại: Trước đây, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về những yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Một số trong các nghiên cứu được thực hiện ở phạm vi nhiều quốc gia như nghiên cứu của Short (1979), Bourke (1989), Molyneux và Thornton (1992).
Một số nghiên cứu khác đã thực hiện ở một quốc gia cụ thể như nghiên cứu của Athanasoglou và các cộng sự (2005), Deger Alper và Adem Anbar (2011), Naceur và Goaied (2001),… Các nghiên cứu đều đã xem xét tác động của các yếu tố nội tại và các yếu tố vĩ mô, môi trường tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nghiên cứu của Athanasoglou, Brissimis và Delis (2005) đã thực hiện tại Hy Lạp trong giai đoạn 1985-2001. Các tác giả sử dụng biến ROA và ROE để đại diện cho lợi nhuận của ngân hàng và tiến hành nghiên cứu thực nghiệm tác động của nhóm các yếu tố tài chính của ngân hàng, nhóm yếu tố ngành và các yếu tố vĩ mô lên ROA, ROE. Các yếu tố tài chính của ngân hàng như vốn ngân hàng, rủi ro tín dụng, tăng trưởng năng suất, chi phí hoạt động, quy mô ngân hàng.
Yếu tố ngành gồm có quyền sở hữu và sự tập trung. Các yếu tố vĩ mô gồm chỉ số lạm phát và chỉ số chu kỳ sản lượng (cyclical output). Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa vốn ngân hàng, tăng trưởng năng suất với lợi nhuận. Rủi ro tín dụng và chi phí hoạt động có tác động nghịch chiều đến lợi nhuận ngân hàng.
Trong khi đó, quy mô ngân hàng không có ảnh hưởng quan trọng và tác đông của nhóm chỉ số ngành là quyền sở hữu và sự tập trung đến lợi nhuận không có ý nghĩa thống kê. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -9- Năm 2006, nhóm các tác giả Athanasoglou, Delis và Staikouras đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến lợi nhuận của 522 ngân hàng từ 07 quốc gia, tại khu vực Đông Nam Châu Âu, trong giai đoạn 1998-2002. Để xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận ngân hàng và các biến độc lập, các tác giả ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính dữ liệu bảng. Các tác giả đã sử dụng cả hai biến ROA và ROE để lượng hóa yếu tố lợi nhuận.
Các biến độc lập gồm có các yếu tố nội tại là tính thanh khoản, rủi ro tín dụng, vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động, quy mô ngân hàng, sở hữu của nước ngoài và thị phần của ngân hàng, các yếu tố ngành là sự cải tiến hệ thống ngân hàng, sự tập trung và các yếu tố vĩ mô là lạm phát và hoạt động kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, lợi nhuận của ngân hàng chịu tác động bởi yếu tố rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng và lạm phát. Deger Alper và Adem Anbar (2011) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố nội tại ngân hàng, các yếu tố vĩ mô với lợi nhuận của 10 ngân hàng giao dịch trên sàn chứng khoán Istanbul Exchange của Thổ Nhĩ Kỳ, giai đoạn 2002- 2010. Biến phụ thuộc được sử dụng nghiên cứu là ROA và ROE.
Các biến độc lập liên quan đến yếu tố nội tại của ngân hàng là quy mô, vốn chủ sở hữu, dư nợ cho vay khách hàng, tiền gửi của khách hàng, tính thanh khoản và cấu trúc thu nhập – chi phí. Biến độc lập đại diện cho yếu tố vĩ mô gồm có tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc dân thực tế hàng năm, lạm phát và lãi suất thực.