Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương này tác giả trình bày lý do thực hiện đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Đóng góp của đề tài; Kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 5 Chương này tác giả trình bày những khái niệm, lý thuyết liên quan tới đề tài nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu cho các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ tín dụng của công viên chức tại TP. Hồ Chí Minh. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này tác giả trình bày quy trình nghiên cứu, nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng làm cơ sở cho tác giả trình bày kết quả nghiên cứu ở Chương 4 của luận văn.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này tác giả trình bày kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ tín dụng của công viên chức tại TP. Hồ Chí Minh và thảo luận kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương này tác giả đưa ra kết luận của luận văn, hàm ý quản trị, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Một số khái niệm 2.1 Khái niệm ỷ định sử dụng “Ý định sử dụng (BI - Behavior Intention) được xem là bao gồm các yếu tố độ ng co có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện” (Ajzen, I.
“Ý định là một yếu tố dùng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi trong tương lai, nó thúc đẩy một cá nhân sẵn sàng thực hiện hành vi” (Ajzen, L, 1991). “Ý định sử dụng hệ thống được xác định bởi ý định thực hiện hành vi được tiên đoán bởi ba yếu tố: thái độ đối với hành vi, ảnh hưởng xã hội và cảm nhận kiểm soát hành vi mà cuối cùng xác định việc sử dụng hệ thống thực tế. Hay ý định là hành động của con người được cân nhắc ba yếu tố niềm tin vào hành vi, niềm tin vào sự ảnh hưởng xã hội, niềm tin vào sự kiểm soát. Các niềm tin này càng mạnh thì ý định hành động của con người càng lớn” (Ajzen, I, 2002).
“Ý định được đo lường bằng có ý định sử dụng (inten to use) và có kế hoạch sử dụng (plan to use)” (Pikkarainen, 2004; Shih, Y. Nghiên cứu của Engel và cộng sự (1978) cho rằng “ý định chấp nhận và sử dụng dịch vụ là những suy nghĩ và cảm nhận của con người trong quá trình mua sắm và tiêu dùng và đó là quá trình nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá chọn lựa, quyết định mua”. “Ý định mua sản phẩm/ dịch vụ là thước đo mức độ thực hiện hành vi đặc biệt nào đó của một người. BI là một nhân tố quan trọng để dự đoán quyết định sử dụng (U- actual usage) công nghệ đã được kiểm chứng qua rất nhiều nghiên cứu trước đây” (Davis, F.
Một trong những kết luận Davis (1989) “là người sử dụng máy tính có thể được dự đoán phù hợp từ dự định của họ. Nghiên cứu với mô hình hành động hợp lý TRA và 7 TAM cho thấy niềm tin của một cá nhân xác định thái độ sử dụng hệ thống và, lần lượt, thái độ phát triển BI. Cuối cùng, BI này ảnh hưởng đến Ư sử dụng hệ thống. Các hệ quả này đã được nghiên cứu và được chấp nhận rộng rãi” (Chen và cộng sự, 2002; Morris, M.
“Hành vi của cá nhân sử dụng hệ thống phần lón giải thích ý định của họ” (Davis, F. “BI tác động đáng kể đến khả năng Ư của người sử dụng hệ thống” (Methieson, 1991). “Ý định sử dụng hệ thống được mô hình hóa như là một chức năng của việc sử dụng hệ thống và cảm nhận hữu ích” (Davis, F. Elbeck (2008) “cho rằng ý định mua là sự sẵn sàng của khách hàng trong việc mua sản phẩm”.
Venkatesh và cộng sự (2003) “cho rằng người tiêu dùng có ý định sử dụng sản phẩm dịch vụ có nghĩa là sẵn sàng để thực hiện một hành động hướng đích. Người tiêu dùng có ý định có nghĩa là sẽ có động cơ để thực hiện hành động, ra quyết định và ý định này được xem như bối cảnh của việc sẽ sử dụng hay loại bỏ một sản phẩm/dịch vụ trong tương lai. Vì vậy ý định của người tiêu dùng sẽ tác động đến hành vi tiếp cận sản phẩm dịch vụ của các tổ chức”. Ý định sử dụng thẻ ngân hàng là mức độ mà theo đó người sử dụng có khả năng sử dụng thẻ ngân hàng trong tương lai, là thái độ tích cực đối với hệ thống thiết bị dùng thẻ.2 Kháỉ niệm về thẻ tín dụng “Thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán được sử dụng phổ biến ngày nay tại các quốc gia trên thế giới.
Ở Mỹ, thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt phổ biến thứ hai. Trong thương mại hiện đại, thẻ tín dụng được xem như một công cụ thanh toán thay thế cho tiền mặt và séc của hàng triệu việc mua hàng thông thường cũng như nhiều giao dịch không thuận tiện hoặc không thể thực hiện được” (Durkin, 2000). “Những thay đổi về khoa học kỹ thuật đã giúp thay đổi cuộc sống của con người, một trong số đó là sự ra đời của thẻ tín dụng - một công cụ thanh toán của cuộc sống hiện đại” (Erdem, 2008). 8 Tại Khoản 5 Điều 2 thuộc Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, được ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ- NHNN ngày 15 tháng 05 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì “Thẻ tín dụng (credit card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ.
Thẻ tín dụng dùng chất liệu nhựa polyme, thống nhất có cùng hình dạng và kích thước theo tiêu chuẩn ISO 7810. ISO / IEC 7810:2003 quy định cụ thể: bốn kích thước khác nhau của thẻ nhận dạng với độ dày 0,76 mm và kích thước của danh nghĩa: ID-000 25 mm X 15 mm, ID-1 85,60 mm X 53,98 mm, ID-2 105 mm X 74 mm, Hình thức ID-3 125 mm X 88 mm”. Xét về bản chất kinh tế, thẻ tín dụng là sự cam kết thanh toán của sẽ thanh toán cho những khoản tiền mà chủ thẻ đã chi tiêu. Tức là ngân hàng phát hành cam kết cho chủ thẻ vay tiền của mình để mua hàng hoá - dịch vụ, rút tiền mặt qua máy thanh toán tiền tự động ATM (Automated Teller Machine) trong số tiền ngân hàng cho phép.
Tuy nhiên việc chi tiêu bằng thẻ tín dụng bị giới hạn bởi đơn vị chấp nhận thẻ và điểm ứng tiền mặt. Do chủ thẻ sử dụng thẻ để chi tiêu thay vì phải mang theo một lượng tiền mặt nhất định nên thẻ tín dụng như một phương tiện thanh toán thay tiền mặt nhưng thẻ tín dụng không phải là tiền tệ.3 Khái niệm Công chức, viên chức Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, Công chức, viên chức năm 2019 quy định: “Công chức, viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bẻ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị — xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với Công chức, viên chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự 9 nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Tại Hoa Kỳ, nước này đảm bảo được chất lượng Công chức, viên chức ngay từ đầu vào bằng việc thực hiện sự minh bạch, nghiêm ngặt trong khâu tuyển dụng Công chức, viên chức. Nước này áp dụng cả hai hình thức tuyển dụng tập trung và phi tập trung còn phương pháp tuyển dụng cũng rất đa dạng tùy vào từng cấp chính quyền linh hoạt để chọn ra những người tài giỏi đầy đủ phẩm chất chuyên môn. Từ những năm 1980 trở về trước, các ứng viên Công chức, viên chức chỉ phải trải qua một kỳ thi chung (kỳ thi Hành chính sự nghiệp) như sau đó chính phủ Mỹ quan tâm đến việc tuyển dụng phi tập trung, tạo điều kiện cho các cơ quan tổ chức tuyển dụng theo nhu cầu của cơ quan, đơn vị mình.
Ở Singapore thì nền công vụ nước này luôn đặt chất lượng phục vụ, hiệu quả, hiệu lực cao luôn cải tiến. Nước này có quan niệm Công chức, viên chức là chìa khóa thành công nên luôn coi trọng yếu tố con người, trọng dụng nhân tài. Theo một số liệu thống kê năm 2010 thì nước này có hơn 114.500 người làm việc trong lĩnh vực công và chiếm khoảng 5,23% tổng số lao động. Chính phủ nước này quan tâm chi trả lương cao cho đội ngũ Công chức, viên chức, mức lương Công chức, viên chức nước này nhận được cao hàng đầu thế giới.
Trung Quốc cũng chú trọng nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất, năng lực chuyên môn cho đội ngũ Công chức, viên chức và coi đây là một phần trong chiến lược thực hiện và đẩy nhanh quá trình cải cách hệ thống công vụ. Để làm được Công chức, viên chức và được tuyển dụng, các ứng viên tham dự phải trải qua một kỳ thi tương đối khó khăn, khắc nghiệt. Ở Nhật Bản, hình ảnh các Công chức, viên chức Nhật Bản là một trong những biểu tượng nổi bật của đất nước này kể từ thời hậu chiến. Công chức, viên chức Nhật có tác phong làm việc tập trung và thái độ làm việc vô cùng nghiêm túc tạo hiệu quả, hiệu suất cao khiến cho họ được đề cao so với thế giới.
Đặc biệt là khi họ được tuyển dụng 10 là Công chức, viên chức thì họ có ý thức trở nên mân cán, sông động và săn sàng đảm nhận nhiệm vụ được giao.