Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh và những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam Chương 3: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam Chương 4: Nghiên cứu thực nghiệm về những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam Chương 5: Kết luận và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng 1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Đề tài “Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam” được nghiên cứu trong giai đoạn 10 năm từ năm 2006-2015 sử dụng dữ liệu của 21 NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên cứu sẽ xác định được yếu tố nào tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam và mức độ tác động như thế nào, từ đó giúp cho các nhà quản lý ngân hàng đưa ra những quan điểm điều hành tốt nhất nhằm thu được lợi ích tối đa cho ngân hàng của mình. Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng giúp cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra những biện pháp, những chiến lược điều hành kinh tế nhằm xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh, vững chắc từ đó tạo tiền đề cho việc phát triển kinh tế Quốc gia. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM 2.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm Hiệu quả hoạt động kinh doanh là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh (Daft,2008).
Thực hiện tất cả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng chỉ hướng tới mục đích là đạt được mức lợi nhuận tối đa nhất. Để đạt được mức thu lợi nhuận cao nhất thì vấn đề chủ yếu ở đây là quản lý thật tốt các khoản mục tài sản bên Có nhất là những khoản mục về vay như cho vay và đầu tư, các hoạt động trung gian khác và các khoản thu nhập của ngân hàng cũng như là dự phòng rủi ro cho vay khách hàng đồng thời kiểm soát chi phí hoạt động của ngân hàng. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh, có vai trò, chức năng đặc biệt trong nền kinh tế. Những kết quả hoạt động của ngân hàng có thể được đo lường, đánh giá trên những góc độ khác nhau.
Dưới góc độ kinh doanh của ngân hàng, đó chính là hiệu quả hoạt động. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng được xem là kết quả lợi nhuận do hoạt động kinh doanh ngân hàng mang lại trong một thời gian nhất định (Trương Quang Thông, 2012). Qua đó có thể thấy lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính tốt nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Gia tăng lợi nhuận không những giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh mà còn để gia tăng thu nhập cho các cổ đông, nâng cao phúc lợi và khen thưởng cho người lao động, ổn định nhân sự, ổn định tổ chức và nâng cao thương hiệu và uy tín của ngân hàng (Nguyễn Đăng Dờn, 2012).
Theo nghĩa rộng hơn, ý nghĩa về lợi nhuận của NHTM rất đặc biệt, lợi nhuận không chỉ phản ảnh hiệu quả hoạt động của từng NHTM riêng lẻ, mà hiệu quả hoạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 động của cả hệ thống NHTM trong nền kinh tế. Hoạt động của NHTM không chỉ mang lại lợi nhuận cho nhân viên và các cổ đông của ngân hàng, rộng hơn nữa nó còn mang lại lợi ích cho khách hàng, cho nền kinh tế quốc gia.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng Tỷ số ROA, ROE là nhóm chỉ tiêu đầu tiên khi xem xét đánh giá hoạt động kinh doanh của NHTM, là tỷ số đo lường khả năng sinh lợi vì chỉ có lợi nhuận càng cao mới chứng tỏ ngân hàng hoạt động hiệu quả. Do đặc thù của ngành ngân hàng ngoài các hệ số ROA, ROE còn sử dụng thêm các hệ số như tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên(NIM, NM), chênh lệch lãi suất bình quân.1 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu(Return on Equity-ROE): Ợ Ậ Ế ROE = Ố Ủ Ở Ữ Từ công thức trên lợi nhuận sau thuế được thu thập từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trong khi số liệu vốn chủ sở hữu được thu thập từ bảng cân đối kế toán. Vốn chủ sở hữu bao gồm tổng các khoản vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu đãi, lợi nhuận giữ lại và các quỹ dự trữ của ngân hàng.
ROE là chỉ số lợi nhuận cho biết lợi nhuận ròng Ngân hàng đạt được từ một đồng vốn chủ sở hữu. Tỷ số ROE được xem là xuất phát điểm cho việc đánh giá tính hình tài chính của một NHTM từ đó có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM đó. ROE có tỷ lệ thấp thì khả năng mở rộng và cạnh tranh của ngân hàng đó so với các ngân hàng khác trên thị trường sẽ bị giảm sút do khả năng thu hút nguồn vốn mới không nhiều, dẫn đến ngân hàng không có cơ hội tích lũy để tăng vốn chủ sở hữu. Bên cạnh đó các quy định của Ngân hàng nhà nước cũng ràng buộc chặt chẽ việc tăng tài sản của ngân hàng với việc tăng vốn chủ sở hữu nên khi ROE thấp cũng ảnh hưởng và hạn chế đến sự tăng trưởng của ngân hàng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo tiêu chuẩn đánh giá năng lực tài chính của Moody’s thì các chỉ tiêu khả năng sinh lời được đánh giá tốt trong khung: ROE ≥12-15%.2 Lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on Assets-ROA): Ợ Ậ Ế ROA = Ổ À Ả Tỷ số ROA đo lường khả năng của ban quản lý khi sử dụng các nguồn lực nói chung và nguồn lực tài chính của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận. Trong công thức này, số liệu lợi nhuận sau thuế được thu thập từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, cụ thể là mục lợi nhuận hay thu nhập sau thuế, trong khi số liệu tổng tài sản lấy từ bảng cân đối kế toán. ROA là chỉ số lợi nhuận cho biết lợi nhuận ròng Ngân hàng đạt được từ một đồng đầu tư vào tổng tài sản. Đây là thước đo hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng vì các khoản lãi được tạo nên từ lượng tài sản.
Một mức ROA thấp là kết quả của một chính sách điều hành không hiệu quả hoặc chi phí hoạt động quá cao. Ngược lại, mức ROA lớn phản ánh ngân hàng sử dụng một cơ cấu tài sản hợp lý, chính sách kinh doanh và đầu tư tài sản hiệu quả. Theo tiêu chuẩn đánh giá năng lực tài chính của Moody’s thì các chỉ tiêu khả năng sinh lời được đánh giá tốt trong khung: ROA≥1%.3 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên(Net Interest Margin-NIM) Ậ Ừ Ã Í Ả Ã NIM = Ổ À Ả Chỉ tiêu này đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất (Trương Quang Thông, 2012) 2.4 Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên(Non Interest Margin-NM) Ậ À Ã Í À Ã NM = Ổ À Ả Chỉ tiêu này đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi(chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ) với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu(tiền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 lương nhân viên, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, chi phí tổn thất tín dụng.5 Chênh lệch lãi suất bình quân Ổ Ừ Ã Ổ Í Ả Ã Chệnh lệch lãi suất bình quân = - Ổ À Ả Ờ Ổ Ồ Ố Ả Ã Chênh lệch lãi suất bình quân là một biện pháp đo lường hiệu quả chỉ tiêu thu nhập mà các nhà quản lý sử dụng để điều hành ngân hàng. Chênh lệch lãi suất bình quân đo lường hiệu quả đối với hoạt động trung gian của ngân hàng trong quá trình huy động vốn và cho vay, đồng thời nó cũng đo lường cường độ cạnh tranh trong thị trường của ngân hàng.
Sự cạnh tranh gay gắt có xu hướng thu hẹp mức chênh lệch lãi suất bình quân(Trương Quang Thông, 2012) Trong phạm vi của bài nghiên cứu tác giả sử dụng chỉ tiêu ROA và ROE để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng vì hai tỷ số này là nhóm chỉ tiêu đầu tiên khi xem xét đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM, chúng đo lường khả năng sinh lợi vì chỉ có lợi nhuận càng cao mới chứng tỏ ngân hàng hoạt động hiệu quả, mặt khác chúng thể hiện khả năng, thời hạn thu hồi vốn đầu tư của chủ sở hữu. Hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của ngân hàng càng cao là cơ sở để ngân hàng tăng quy mô vốn cũng như khẳng định năng lực tài chính của chính mình. Ngoài ra ROA và ROE thường được sử dụng thường xuyên trong các nghiên cứu học thuật để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng như một số nghiên cứu: Panayiotis và cộng sự(2006), Alper và Anbar(2011), Juvevino Ximenes và Li Li(2014), Moussa(2012). Tỷ lệ cao hơn (ROA) thể hiện một hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng và thực hiện quản lý tốt hơn trong khi một tỷ lệ thấp hơn có nghĩa là sử dụng không hiệu quả tài sản (Samad ,2004).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Dựa trên các nghiên cứu trước đây thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên trong ngân hàng hay các yếu tố đặc trưng riêng của ngân hàng như: Quy mô tổng tài sản, quy mô dư nợ, huy động vốn, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. và các yếu tố bên ngoài thuộc về kinh tế vĩ mô như: lạm phát, cung tiền, GDP, lãi suất.Luận văn sẽ trình bày một số các yếu tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam như sau: 2.1 Các yếu tố đặc trưng ngân hàng 2.1 Quy mô ngân hàng Được đo lường thông qua công thức: LN(TỔNG TÀI SẢN) Quy mô của các ngân hàng(SIZE) là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận, được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản.