chương 1, tác giả đã giới thiệu về mục tiêu, đối tượng, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài. Tiếp theo, chương 2 trình bày tổng quan về các lý thuyết có liên quan đến thu nhập của ngân hàng. Sau đó sẽ đi tìm hiểu cụ thể về thu nhập ngoài lãi, các khái niệm, các dịch vụ tạo ra thu nhập ngoài lãi. Ngoài ra, chương 2 còn giới thiệu các nghiên cứu trước có liên quan đến thu nhập ngoài lãi của ngân hàng và lược khảo nội dung cũng như kết luận của các đề tài đó.
Khái niệm về thu nhập ngoài lãi của ngân hàng Sơ lược về thu nhập của ngân hàng Thu nhập ngoài lãi là một bộ phận trong tổng thu nhập của ngân hàng. Vì vậy, để tìm hiểu rõ về thu nhập ngoài lãi, trước tiên cần hiểu về thu nhập của ngân hàng. Theo Invetopedia, cách cơ bản nhất để ngân hàng kiếm tiền là cho vay với lãi suất cao hơn chi phí của vốn mà họ cho vay. Cụ thể, các ngân hàng sẽ thu lãi từ hoạt động cho vay và trả lãi tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi cũng như các chứng khoán nợ mà họ đang sở hữu.
Khoản chêch lệch đó được gọi là thu nhập lãi ròng của ngân hàng. Thu nhập của Ngân hàng thương mại bắt nguồn từ nhiều khoản thu do các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mang lại. Nhìn chung, có thể chia ra làm hai phần chính, đó là thu nhập từ hoạt động tín dụng và thu nhập từ hoạt động ngoài tín dụng. Theo nghị định số 166/1999/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ tài chính của các TCTD thì các khoản thu nhập của Ngân hàng thương mại được tạo ra từ nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng.
Các Ngân hàng thương mại hiện đại ngày nay kinh doanh đa năng nên nội dung các khoản thu cũng rất phong phú. Theo nguyên tắc kế toán, thì các khoản thu nhập của Ngân hàng thương mại được phản ánh và bố trí ở loại 7 trong hệ thống tài khoản của TCTD. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Ngân hàng có rất nhiều nguồn khác nhau để tạo ra thu nhập. Một số tập trung vào cho vay các công ty, doanh nghiệp lớn; một số lại cho vay hộ gia đình và một số các hoạt động thu phí khác.
Thu nhập ngoài lãi của ngân hàng Đây là khoản thu nhập của các Ngân hàng thương mại được hình thành từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt động tín dụng và chi phí bỏ ra để thực hiện các sản phẩm dịch vụ đó. Khoản thu nhập này được gọi là thu nhập ngoài lãi vay (Non-Interest Income) hay thu nhập từ hoạt động ngoài tín dụng. (Hoàng Ngọc Tiến – Võ Thị Hiền, 2010) Theo Investopedia, thu nhập ngoài lãi của ngân hàng có nguồn gốc chủ yếu từ phí, bao gồm phí tiền gửi và lệ phí giao dịch; phí không đủ tiền giao dịch trong tài khoản; lệ phí hàng năm; phí dịch vụ tài khoản hàng tháng; phí hoạt động, kiểm tra; phí phát hành thẻ tín dụng và phí phạt khi trả chậm. Ở Việt Nam, chỉ tiêu “Tỷ lệ thu ngoài tín dụng” được nhắc đến trong nhiều báo cáo phân tích, đánh giá hoạt động của các Ngân hàng thương mại trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).
Theo đánh giá chung, chỉ tiêu này càng lớn thể hiện mức độ đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khác ngoài tín dụng cũng như hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ này. Nó cũng đồng nghĩa với việc phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh giữa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Như vậy, có thể hiểu thu nhập ngoài lãi là khoản thu nhập của ngân hàng dựa trên việc thu phí tất cả các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng mà họ cũng cấp. Các yếu tố tạo nên thu nhập ngoài lãi của ngân hàng 2.
Thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng Tùy thuộc vào tình hình kinh tế, chính sách phát triển của từng quốc gia nói chung và tình hình cụ thể của từng ngân hàng cũng như nhu cầu của khách hàng nói riêng, các ngân hàng thương mại sẽ có ít hay nhiều loại dịch vụ. Tuy nhiên, về cơ bản, các ngân hàng thương mại có những dịch vụ truyền thống như sau: Dịch vụ ủy thác TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Dịch vụ ủy thác là dịch vụ mà ngân hàng thương mại nhận sự ủy thác của khách hàng để đứng ra mua bán hộ các loại chứng khoán có giá, kim loại quý, ngoại hối… trong đó dịch vụ phát hành hộ chứng khoán có giá giữ vai trò quan trọng. Khi tiến hành dịch vụ này, thu nhập của ngân hàng không chỉ đến từ việc thu phí dịch vụ mà còn đến từ lợi nhuận khi ngân hàng tiến hành kinh doanh các loại chứng khoán đó. Khách hàng, mà cụ thể ở đây là các tổ chức, các doanh nghiệp có khả năng huy động được nguồn vốn và tài chính một cách nhanh chóng khi sử dụng loại dịch vụ này.
(Phạm Anh Thủy, 2013) Dịch vụ chuyển tiền Dịch vụ chuyển tiền có thể được hiểu là việc các tổ chức cung ứng dịch vụ (mà ở đây là các tổ chức tín dụng) đứng ra chuyển một số tiền nhất định theo yêu cầu của bên trả tiền cho bên thụ hưởng. Dịch vụ chuyển tiền có thể thực hiện thông qua tài khoản thanh toán hoặc các tài khoản khác của khách hàng được mở tại ngân hàng. (Thông tư số 46/2014 của Ngân hàng Nhà nước) Dịch vụ chuyển tiền có thể được chia thành hai loại: chuyển tiền trong nước và chuyển tiền ngoài nước. Các công cụ thường được sử dụng để thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền là séc, điện chuyển tiền, thư chuyển tiền… Dịch vụ nhờ thu Dịch vụ nhờ thu là dịch vụ mà ngân hàng được khách hàng ủy thác để thu các khoản tiền căn cứ vào các chứng từ như séc, thương phiếu, các chứng khoán có giá… Dịch vụ này được sử dụng chủ yếu trong giao dịch buôn bán xuất nhập khẩu: người bán thông qua ngân hàng thương mại để thu tiền hàng của người mua.
Nhờ thu có 2 loại là nhờ thu kèm chứng từ (documentary collection) và nhờ thu trơn (clean collection). Nhờ thu kèm chứng từ là người mua muốn lấy được chứng từ nhận hàng thì phải trả tiền ngay hoặc ký chấp nhận trả tiền, sau đó ngân hàng nhờ thu mới giao chứng từ cho người mua đi nhận hàng. Nhờ thu trơn là người bán chỉ giao chỉ thị nhờ thu và hối phiếu cho ngân hàng, còn bộ chứng từ gửi thẳng đến cho người mua. Người mua nhận hàng rồi mới thanh toán tiền cho ngân hàng.
(Trần Văn Hòe, 2011) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Khi tiến hành dịch vụ nhờ thu, ngoài việc thu phí thủ tục của khách hàng, ngân hàng còn có thể tranh thủ sử dụng số tiền của khách hàng khi thu hộ được, đặc biệt là ngoại tệ. Dịch vụ phát hành thư tín dụng Thư tín dụng (Letter of Credit – L/C) là một cam kết thanh toán bằng văn bản của ngân hàng thương mại đối với khách hàng (thông thường là người bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ) khi khách hàng xuất trình được một bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp với các điều khoản trong L/C. Nói cách khác, ngân hàng sẽ thanh toán cho khách hàng (người thụ hưởng) một số tiền nhất định khi dikhách hàng cung cấp được bộ chứng từ chứng minh được mình đã hoàn thành nghĩa vụ cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian nhất định được quy định trong L/C. Tùy thuộc vào uy tín của khách hàng mà ngân hàng có thể yêu cầu họ phải ký quỹ để mở L/C hoặc không.
Một số loại thư tín dụng phổ biến hiện nay có thể kể đến như: thư tín dụng có thể hủy bỏ (Revocable L/C), thư tín dụng không thể hủy bỏ (Irrevocable L/C), thư tín dụng có xác nhận (Comfirmed L/C), thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C), thư tín dụng giáp lưng (Back to Back L/C), thư tín dụng tuần hoàn (Revolving Letter of Credit), thư tín dụng dự phòng (Standby Letter of Credit), thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C)…tùy theo phương thức và đặc điểm vủa từng loại giao dịch mà ta có thể lựa chọn loại thư tín dụng phù hợp. Sở dĩ thư tín dụng được sử dụng nhiều trong buôn bán, đặc biệt là trong thanh toán quốc tế là do sự an toàn và tiện dụng, đảm bảo được đồng thời cả lợi ích bên mua lẫn bên bán. Người bán chỉ nhận được thanh toán khi đã đảm bảo cung cấp đầy đủ hàng hóa hoặc dịch vụ được quy định trong hợp đồng. Người mua chỉ phải thanh toán khi đã có các bằng chứng xác thực người bán đã hoàn thành nghĩa vụ của mình.
Ngân hàng thu được phần phí mở L/C và tiền hoa hồng khi thực hiện dịch vụ này. Dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ Thẻ ngân hàng là một phương tiện dùng để thanh toán do các tổ chức phát hành cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng các dịch vụ về thẻ kèm theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận. Thẻ ngân hàng được phát hành bởi các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và một số công ty tài chính khác. Dựa trên phạm vi sử dụng, thẻ ngân hàng có thể được phân thành hai loại: thẻ nội địa và thẻ quốc tế.
Dựa trên nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ, có thể phân thành: thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng và thẻ trả trước: - Thẻ ghi nợ (Debit card): là loại thẻ được phát hành và sử dụng dựa trên số tiền gửi của chủ thẻ tại ngân hàng. Các giao dịch thực hiện trên thẻ phải trong phạm vi số dư tiền gửi của chủ thẻ mở tại ngân hàng. Ban đầu, thẻ ghi nợ được thiết kế là thẻ rút tiền mặt trong tài khoản của chủ thẻ tại các ATM, do đó, loại thẻ này còn được gọi là thẻ ATM. Cùng với sự phát triển của công nghệ, ngoài các tiện ích cơ bản như rút tiền, kiểm tra số dư tài khoản, chuyển tiền,… chiếc thẻ ATM đã được các ngân hàng tích hợp thêm nhiều tính năng như dùng để mua hàng hóa hoặc thanh toán hóa đơn tại các siêu thị, nhà hàng; thực hiện các giao dịch mua hàng trực tuyến trên internet.
Chủ thẻ sử dụng hoàn toàn chủ động kiểm soát được phạm vi tiêu dùng do loại thẻ này được phát hành dựa trên số dư tài khoản của khách hàng. - Thẻ tín dụng (Credit card): là loại thẻ được phát hành dựa trên một thỏa thuận hạn mức tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng.