Đặt vấn đề và tính cấp thiết của đề tài: Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò cực kỳ quan trọng, đây đƣợc xem là trung gian trong luân chuyển vốn giữa các thành phần kinh tế. Từ đó, làm nguồn lực kích thích sự tăng trƣởng bền vững của nền kinh tế. Do đó, việc nâng cao chất lƣợng hoạt động và hạn chế rủi ro trong hoạt động của ngân hàng là một việc rất quan trọng. Trong quá trình hoạt động của ngân hàng, nguồn thu chủ yếu là từ hoạt động tín dụng.
Vì vậy, hoạt động này tác động một phần không nhỏ đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, trong giai đoạn cả thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bị ảnh hƣởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh Covid, đặc biệt trong ngành ngân hàng, nợ xấu của nhiều ngân hàng đồng loạt tăng mạnh, việc xác định và đo lƣờng rủi ro tín dụng là một việc làm cần thiết để hạn chế rủi ro và tổn thất mà ngân hàng sẽ gặp phải. Trên thế giới, đã có tƣơng đối nhiều bài nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến rủi ro tài chính. Tuy nhiên, ở Việt Nam, các bài nghiên cứu đi sâu hơn về rủi ro tín dụng ở khoảng thời gian gần đây thì chƣa nhiều.
Vì vậy, việc thực hiện đề tài này là rất cần thiết để góp phần phân tích và đƣa ra những cách giải quyết giúp ngân hàng hạn chế những rủi ro tín dụng sẽ gặp phải.2 Tổng quan một số nghiên cứu thực nghiệm về các thanh khoản và các nhân tố ảnh hƣởng đến thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Những nghiên cứu thực nghiệm ở một số nƣớc trên thế giới: - Nghiên cứu của Jin-Li và cộng sự (2004): Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng có sự tăng trƣởng ngƣợc chiều nhau. Nghĩa là quy mô ngân hàng cao lớn thì rủi ro tín dụng sẽ càng thấp. Bởi, đối với những ngân hàng có quy mô lớn, họ sẽ có những cơ chế để quản quản lý những rủi ro tốt hơn và hạn chế những danh mục cho vay rủi ro cao. Vì vậy, so với các ngân hàng có quy mô nhỏ thì những ngân hàng quy mô lớn sẽ ít phải đối mặt với rủi ro tín dụng hơn.
1 - Nghiên cứu Daniel Foos và cộng sự (2010): Tác giả đã cho thấy rằng tăng trƣởng tín dụng có tác động cùng chiều đối với rủi ro tín dụng. Khi nền kinh tế tăng trƣởng, việc cạnh tranh giữa các ngân hàng sẽ diễn ra gay gắt hơn. Các ngân hàng sẽ áp dụng những chính sách nhƣ giảm lãi suất hoặc nới lỏng điều kiện cấp tín dụng. Và các khoản vay có chất lƣợng thấp sẽ dễ dàng sẽ rất dễ bị ảnh hƣởng khi nền kinh tế bị biến động dù chỉ là một biến động nhỏ.
- Nghiên cứu Louzis, Vouldis, và Metaxas (2010): Nghiên cứu đã sử dụng các số liệu của hệ thống các ngân hàng tại Hi Lạp và kết luận rằng lãi suất cho vay có tác động cùng chiều đối với tỉ lệ nợ xấu của của ngân hàng tại Hi Lạp. Bên cạnh đó, các tác giả đã sử dụng các chỉ tiêu ROE, ROA để nghiên cứu mối liên hệ giữa kết qủa hoạt động kinh doanh và tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng và đƣa ra kết luân rằng 2 yếu tố này có tác động ngƣợc chiều nhau. - Nghiên cứu Fofack (2005): Bài nghiên cứu thu thập các số liệu từ các NHTM tại vùng tiêu bang Châu Phi Sahara trong năm 1990. Tác giả sử dụng chỉ tiêu nợ xấu để đại diện cho rủi ro tài chính để phân tích các yếu tố tăng trƣởng kinh tế ảnh hƣởng nhƣ thế nào đối với chỉ tiêu này.
Cuối cùng, tác giả đƣa ra đƣợc kết luận rằng, chỉ tiêu tăng trƣởng kinh tế có tác động ngƣợc chiều đối với rủi ro tín dụng của ngân hàng. Cụ thể nhƣ, một cuộc suy thoái kinh tế càng kéo dài thì sẽ làm cho rủi ro tính dụng ngày càng tăng và một - Nghiên cứu Bucur. E (2014): Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của các NHTM tại Rumani trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013. Tác giả đã chỉ ra rằng, tốc độ tăng trƣởng cung tiền và tỷ giá hối đoái thị trƣờng các xu hƣớng ngƣợc chiều đối với rủi ro tín dùng, và tỷ lệ thất nghiệp lại có tác động cùng chiếu đối với rủi ro tín dụng.
Đặc biệt, trong bài nghiên cứu này cho thấy, rủi ro tín dụng bị ảnh hƣởng đáng kể bởi 2 yếu tố biến động tỷ giá và tỷ lệ thất nghiệp. - Nghiên cứu Million Gizaw Tole, Mohammed Sultan Jabir và Haymanot Alemayehu Wolde (2015): Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 8 NHTM hoạt động tại Ethiopia trong giai đoạn 13 năm. Nhóm tác giả đã chỉ ra rằng tỷ lệ thất nghiệp có tác 2 động cùng chiều đối với rủi ro tín dụng và yếu tố tăng trƣởng kinh tế lại có xu hƣớng ngƣợc chiếu với rủi ro tín dụng của các ngân hàng này.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam: - Nghiên cứu Nguyễn Thị Hồng Vinh và Lê Phan Thị Diệu Thảo (2015): Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu của 30 Ngân hàng Thƣơng Mại Việt Nam để nghiên cứu mối quan hệ giữa Vốn chủ sở hữu và khả năng sinh lời, rủi ro tín dụng của các Ngân hàng tại Việt Nam. Tác giả đã chỉ ra rằng, vốn chủ sở hữu có tác động cùng chiếu đối với khả năng sinh lời và ngƣợc chiều đối với rủi ro tín dụng.
- Nghiên cứu Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013): Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu của 10 ngân hàng trong gian đoạn 2005 đến 2011. Tác giả đã chỉ ra rằng, một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu ở thời điểm năm hiện tại cao thì mức độ nợ xấu ở năm tiếp theo cũng sẽ cao, và tăng trƣởng tín dụng năm nay cao sẽ chƣa làm tăng nợ xấu ngay lập tức mà sẽ tăng vào năm sau đó. - Nghiên cứu Trần Trọng Phong, Trần Văn Bằng và Nguyễn Song Phƣơng (2015): Nhóm tác giả sử dụng dữ liệu của 15 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2014 và chỉ ra rằng, nếu tỷ lệ lạm phát tăng thì tỷ lệ nợ xấu của các NHTM sẽ có xu hƣớng giảm.3 Mục tiêu nghiên cứu: 1.1 Mục tiêu tổng quát: Kiểm định và cung cấp những thông tin giải thích về các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng TMCP tại Việt Nam. Từ đó, đƣa ra những ý kiến cũng nhƣ khuyến nghị đến các cấp quản lý tại các ngân hàng TMCP để từ đó rút ra đƣợc những quyết định nhằm kiểm soát và hạn chế tối thiểu rủi ro tín dụng mà các ngân hàng TMCP tại Việt Nam đang và sẽ gặp phải.2 Mục tiêu cụ thể: Từ mục tiêu tổng quát nói trên, khoá luận xác định 3 mục tiêu cụ thể cần thực hiện: - Thứ nhất, xác định đƣợc các yếu tố ảnh hƣởng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng TMCP ở Việt Nam 3 - Thứ hai, xác định đƣợc xu hƣớng của các yếu tố trên và mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đó đối với biến rủi ro tín dụng - Thứ ba, từ những yếu tố tác động đó, bài nghiên cứu đƣa ra các ý kiến cũng nhƣ giải pháp để hạn chế những rủi ro tín dụng.4 Câu hỏi nghiên cứu: - Rủi ro tín dụng ảnh hƣởng nhƣ thế nào đối với nền kinh tế nói chung và các ngân hàng TMCP tại Việt Nam nói riêng? - Rủi ro tín dụng của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam chịu ảnh hƣởng bới các yếu tố nào? - Các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam với mức độ nhƣ thế nào và xu hƣớng ra sau? - Sau khi phân tích đƣợc những yếu tố ấy thì cần có những giải pháp nhƣ thế nào để giảm thiểu đƣợc những rủi ro tín dụng mà các ngân hàng TMCP tại Việt Nam sẽ phải đối mặt? 1.5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 1.1 Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của bài nghiên cứu nàt là các yếu tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng của hệ thống Ngân hàng TMCP tại Việt Nam.2 Phạm vi nghiên cứu: Trong quá trình thu thập số liệu, tác giả đã chọn 23 Ngân hàng TMCP ở Việt Nam Đề tài sử dụng dữ liệu của 23 Ngân hàng TMCP tại Việt Nam, bao gồm: NHTMCP An Bình, NHTMCP Á Châu, NHTMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam, NHTMCP Công Thƣơng Việt Nam, NHTMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam, NHTMCP Bản Việt, NHTMCP Phát triển TP.HCM, NHTMCP Kiên Long, NHTMCP Bƣu điện Liên Việt, NHTMCP Quân Đội, NHTMCP Hàng hải Việt Nam, NHTMCP Nam Á, NHTMCP Quốc Dân, NHTMCP Phƣơng Đông, NHTMCP Xăng dầu Petrolimex, NHTMCP Đông Nam Á, NHTMCP Sài Gòn Công Thƣơng, NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội, NHTMCP Sài Gòn 4 Thƣơng Tín, NHTMCP Kỹ Thƣơng Việt Nam, NHTMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam, NHTMCP Quốc Tế Việt Nam, NHTMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng.
Về không gian: bài nghiên cứu sử dụng những dữ liệu thứ cấp của 23 ngân hàng TMCP với tiêu chí hoạt động trong suốt quá trình nghiên cứu, cùng với các số liệu đƣợc công bố đầy đủ và rõ ràng trên Báo cáo tài chính của từng ngân hàng. Về thời gian: Số liệu thu thập từ các Báo cáo tài chính của từng ngân hàng và các số liệu kinh tế vĩ mô trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2021.6 Phƣơng pháp nghiên cứu: Trong bài nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng dữ liệu bảng (Panel Data) thông qua mẫu quan sát của 23 ngân hàng TMCP tại Việt Nam trong gian đoạn từ năm 2012 đến năm 2021. Những số liệu này sẽ đƣợc thu thập từ Báo cáo tài chính đƣợc công bố trên các trang của ngân hàng, các số liệu vĩ mô đƣợc công bố trên trang Ngân hàng nhà nƣớc, , các tạp chí uy tín và các trang mạng điện tử,… Từ những số liệu thu thập đƣợc, tác giả thực hiện hồi quy dữ liệu theo mô hình POOLED OLS, Mô hình tác động cố định (FEM), Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Sau đó, sử dụng kiểm định Breusch – Pagan để lựa chọn giữa mô hình POOLED OLS và REM và sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa mô hình FEM và REM.
Sau khi lựa chọn đƣợc mô hình phù hợp, tác giả thực hiện kiểm định các khuyết tật phổ biến của mô hình, nếu mô hình có khuyết tật thì thực hiện khắc phục các khuyết tật mà mô hình mắc phải. Từ đó, xác định đƣợc các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng TMCP tại Việt Nam, cũng nhƣ chiều hƣớng tác động của các yếu tố này.