Chương 1 của luận văn trình bày được nội dung tổng quan về đề tài, bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu mà nghiên cứu đặt ra, ý nghĩa của nghiên cứu trong thực tế. Bên cạnh đó, tác giả cũng khái quát về một số đề tài nghiên cứu đi trước, từ đó tìm ra được định hướng cho nghiên cứu của tác giả. 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Hoạt động vay vốn ngân hàng của khách hàng 2.1 Nợ và trả nợ Theo Nguyễn Văn Ngọc (2009): “Nợ là số tiền một cá nhân, tổ chức đã vay của chủ thể khác. Các khoản nợ phát sinh từ việc vay tiền để mua hàng hóa, dịch vụ hoặc tài sản.
Các chứng chỉ nợ là bằng chứng để lấy lại số tiền cho vay, bao gồm cả lãi suất trong thời hạn vay”. Theo Từ điển tiếng việt: “Nợ là một thuật ngữ thường được sử dụng trong trường hợp phải thực hiện một nghĩa vụ hoàn trả hay đền bù về tài sản, vật chất. Nợ được hình thành khi một người cho vay đồng ý cho người vay vay một lượng tài sản nhất định. Trong xã hội hiện đại, nợ thường được đi kèm với sự đảm bảo khả năng thanh toán với một mức lãi suất nhất định.
tính theo thời điểm. Theo Nguyễn Văn Vương (2010): “Nợ là một cam kết chưa được trả, thường bằng tiền mặt. Nợ xuất hiện khi chủ thể nhận nợ không trả cho một dịch vụ đã được thỏa thuận trước (tiền vận chuyển, tiền thuê nhà, tiền ga, tiền điện, tiền điện thoại, tiền internet); không trả các khoản bắt buộc theo luật quy định đầy đủ và kịp thời (tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thuế); khi chủ thể nhận nợ đi vay tiền mặt…” Như vậy, nợ là khoản phải hoàn trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác có liên quan tại một thời điểm, phát sinh từ việc vay của chủ thể được phép vay vốn theo quy định của pháp luật Việt Nam. Từ khái niệm về nợ vay như trên, có thể hiểu Trả nợ là việc chủ thể nhận nợ thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác có liên quan phát sinh từ việc vay.
Nghĩa vụ trả nợ của chủ thể nhận nợ là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu nhận nợ là tài sản thì phải trả tài sản cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Trong trường hợp vay nợ có lãi mà khi đến hạn chủ thể nhận nợ không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên nhận nợ phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.2 Vay vốn ngân hàng, trả nợ vay ngân hàng Vay vốn ngân hàng là giao dịch đi vay tài sản giữa bên vay là cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức khác với bên cho vay là ngân hàng hoặc các định chế tài chính. Trong đó, khách hàng đi vay sẽ được ngân hàng chuyển giao tài sản và sử dụng trong 1 thời gian nhất định theo thỏa thuận. Bắt đầu từ thời điểm nhận khoản vay, khách hàng đi vay phải có nghĩa vụ, trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi vay cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Trong hoạt động vay vốn ngân hàng, khách hàng đi vay có thể vay dưới nhiều hình thức như: vay ngắn hạn, trung hạn, đi vay phục vụ tiêu dùng; đi vay phục vụ sản xuất kinh doanh; vay vốn trả góp, vay vốn phi trả góp. Để có thể vay vốn tại ngân hàng thương mại, khách hàng đi vay phải chuẩn bị đầu đủ thủ tục hồ sơ vay vốn bao gồm: Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án kinh doanh và tự khai nguồn thu nhập – chi phí từ hoạt động sản xuất kinh doanh; Giấy tờ nhân thân (CMND, hộ khẩu, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân…); Hồ sơ Pháp lý (Giấy đăng ký kinh doanh, mã số thuế…); Giấy tờ chứng minh nguồn thu nhập (sổ theo dõi doanh thu/công nợ, báo cáo tài chính, tờ khai thuế giá trị gia tăng, hợp đồng cho thuê nhà/xe); Tài liệu thuyết minh mục đích sử dụng vốn vay (hợp đồng đầu vào/đầu ra, hóa đơn mua/bán hàng, các chứng từ khác…); Giấy tờ thể hiện quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản đảm bảo; Các giấy tờ khác có liên quan. Dựa trên khái niệm trả nợ có thể hiểu trả nợ vay ngân hàng là việc khách hàng vay vốn thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ đến hạn cho ngân hàng bao gồm gốc và lãi vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Trường hợp khách hàng đi vay không có khả năng trả nợ vay ngân hàng theo đúng hạn đã thỏa thuận (một phần hoặc toàn bộ nợ gốc, lãi tiền vay) ngân hàng sẽ xem xét chấp thuận cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng đi vay theo quy định tại ngân hàng hoặc chuyển thành nợ quá hạn. Với những khoản nợ vay đã quá hạn trả nợ, ngân hàng và khách hàng sẽ thỏa thuận việc tính tiền lãi phải trả và ngân hàng sẽ ưu tiên thực hiện thu nợ gốc trước khi thu nợ lãi tiền vay.3 Quản trị khả năng trả nợ vay của khách hàng Trong giao dịch đi vay của khách hàng với ngân hàng thương mại, việc hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay của khách hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh, đến khả năng bảo toàn vốn, mở rộng cho vay, giảm thiểu rủi ro của ngân hàng.
11 Do đó, công tác quản trị khả năng trả nợ vay của khách hàng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, đảm bảo ngân hàng thu hồi được nguồn vốn cho vay và có lãi. Quản trị khả năng trả nợ vay của khách hàng là công tác quản lý, theo dõi, giám sát việc hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi của khách hàng đi vay theo thỏa thuận với ngân hàng. Nếu khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đúng hạn, ngân hàng sẽ tiến hành các biện pháp đôn đốc, nhắc nhở đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn. Trong quản trị khả năng trả nợ vay của khách hàng, ngân hàng thương mại cần tiến hành phân loại nợ vay của khách hàng để từ dó có các biện pháp thu hồi nợ phù hợp cũng như có các hoạt động quản trị rủi ro cho vay tương ứng với từng khoản nợ.
Căn cứ theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, nợ vay của khách hàng được chia thành năm nhóm như sau: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ vay được ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ vay được ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ vay được ngân hàng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ vay được ngân hàng đánh giá là khả năng tổn thất cao. Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ vay được ngân hàng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.2 Khả năng trả nợ vay đúng hạn của khách hàng cá nhân 2.1 Khái niệm Hiện tại trên thế giới và Việt Nam chưa có khái niệm thống nhất về “khả năng trả nợ vay đúng hạn của khách hàng” mà chỉ tập trung vào các biểu hiện của khách hàng được đánh giá là “không có khả năng trả nợ. Thông qua phương pháp nhận diện khách hàng “không có khả năng trả nợ”, các khách hàng còn lại thuộc trường hợp khách hàng “có khả năng trả nợ đúng hạn”. 12 Trong tài liệu của Basel Committee on Banking Supervision – 2006, Ủy ban Basel định nghĩa khách hàng “không có khả năng trả nợ” là những khách hàng có dấu hiệu không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ khi đến hạn mà chưa tính đến việc ngân hàng bán tài sản (nếu có) để hoàn trả hoặc có các khoản nợ xấu có thời gian quá hạn trên 90 ngày.
Trong hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (IFRS), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ". Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ đáng nghi ngờ của khách hàng. Theo các quy định của pháp luật ngân hàng thương mại, cụ thể là Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, quy định về phân loại khoản nợ theo hai phương pháp định lượng và định tính. Với phương pháp định lượng, một khoản cho vay được gọi là nợ đủ tiêu chuẩn khi khoản nợ đó có khả năng thu hồi đúng hạn.
Theo phương pháp định tính, nợ đủ tiêu chuẩn là các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. Như vậy một khoản vay được đánh giá là hiệu quả khi khoản vay đó được khách hàng trả lãi và trả nợ gốc đúng thời hạn. Xét trong mối quan hệ tín dụng ngân hàng, khả năng trả nợ vay đúng hạn của khách hàng là việc đánh giá năng lực khách hàng có thực hiện đầy đủ và đúng hạn nghĩa vụ nợ cho bên cấp tín dụng trong toàn bộ thời gian quan hệ tín dụng. Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới như Kohansal & Mansoori (2009), Antwi &ctg (2012), Sileshi & ctg (2012) khẳng định khả năng trả nợ vay đúng hạn của KHCN là khả năng tài chính của khách hàng nhận nợ, là khả năng hoàn thành nghĩa vụ trả vốn gốc và lãi đúng hạn của khách hàng đối với ngân hàng cho vay.
Như vậy, khả năng trả nợ vay đúng hạn của KHCN là khả năng của khách hàng có thể hoàn trả đủ số nợ gốc và lãi vay của khách hàng theo đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.