chương 1 Từ tính cấp thiết của đề tài với những mục tiêu đặt ra, tác giả sẽ dựa vào số liệu thu thập được trong thực tế tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng bằng phương pháp phân tích và các mô hình kinh tế lượng nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của NHTMCP trong khoảng thời gian nghiên cứu. Thông qua đó, bài luận văn đưa ra các giải pháp cho NHTMCP tham khảo. 7 CHƯƠNG 2 :CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐỂN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2.1 Giới thiệu chung Nội dung chính của chương nay là trình bày cơ sở lý thuyết cơ bản liên quan đến KNSL của NHMTCP thông qua khái niệm, đặc điểm của KNSL, so sánh khác biệt giữa KNSL và hiệu quả hoạt động và nội dung của các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của NHTMCP hiện nay. Đồng thời để làm sáng tỏ và tin cậy hơn về cơ sở lý thuyết, luận văn cũng đề cập tới một số nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến KNSL của NHTMCP.
Từ đó tìm ra những điểm mới trong nghiên cứu của tác giả dựa trên nền tảng lý thuyết của bài nghiên cứu có sẵn.2 Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại.1 Khái niệm về khả năng sinh lời của NHTMCP: Sự phát triển hệ thống NHTMCP đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế và ngược lại, nền kinh tế cũng phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất thì NHTMCP cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. NHTMCP là một định chế tài chính kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chủ yếu thu lợi nhuận từ kinh doanh chênh lệch lãi suất. Theo Phan Thị Thu Hà (2013), NHTM huy động tiền gửi từ các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán (thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi…). Ngoài ra, NHTMCP còn tối đa hóa lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh doanh khác (môi giới tiền tệ, ủy thác, bảo lãnh, kinh doanh ngoại hối, quản lý tài sản, dịch vụ ngân quỹ, tư vấn tài chính…).
8 Theo Phan Thị Thu Hà (2013), khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả, yếu tố đánh giá hiệu quả hoạt động, thể hiện việc ngân hàng có thể đạt được một tỷ lệ thu nhập từ số tiền đầu tư ban đầu trong một khoảng thời gian nhất định hay không. Khả năng sinh lời có thể được đo lường một cách tương đối thông qua lợi nhuận hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận là thước đo tình hình hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định, được tính theo giá trị tuyệt đối bằng khoảng chênh lệch giữa tổng doanh thu trừ đi các khoản chi phí phục vụ cho việc hoạt động kinh doanh, theo Phan Thị Thu Hà (2013). Thu nhập trong một năm thường bao gồm: • Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự: Thu lãi tiền gửi, thu lãi cho vay, thu từ hoạt động kinh doanh – đầu tư chứng khoán nợ, lãi, cho thuê tài chính, bảo lãnh và thu nhập từ hoạt động tín dụng, theo Phan Thị Thu Hà (2013).
• Thu nhập ngoài lãi: Thu nhập từ hoạt động dịch vụ, thu nhập từ mua bán chứng khoán kinh doanh hay chứng khoán đầu tư, thu từ kinh doanh ngoại tệ, thu nhập từ góp vốn mua cổ phần và thu nhập từ hoạt động khác, theo Phan Thị Thu Hà (2013). Chi phí của ngân hàng bao gồm: • Chi phí lãi và các chi phí tương tự: trả lãi tiền gửi, trả lãi tiền vay, trả lãi phát hành giấy tờ có giá và chi phí hoạt động tín dụng khác, theo Phan Thị Thu Hà (2013). • Chi phí ngoài lãi: Chi từ hoạt động dịch vụ, chi từ mua bán chứng khoán kinh doanh hay đầu tư, chi từ kinh doanh ngoại tệ, chi từ góp vốn mua cổ phần, chi từ hoạt động khác, theo Phan Thị Thu Hà (2013). 9 • Chi phí hoạt động: Chi phí cho nhân viên, chi nộp thuế, phí và lệ phí; chi về tài sản, chi hoạt động quản lý công vụ, chi phí bảo hiểm tiển gửi, chi phí dự phòng, theo Phan Thị Thu Hà (2013).
Tuy nhiên, lợi nhuận không cho biết được nếu đầu tư một đồng sẽ thu về bao nhiêu đồng, nên chỉ dùng lợi nhuận để đo lường khả năng sinh lời thì chưa đầy đủ. Để đánh giá khả năng sinh lời thì đòi hỏi cần phải phân tích tỷ số kết hợp đo lường bằng lợi nhuận trên các yếu tố khác tạo ra lợi nhuận như tổng tài sản, vốn cổ phần…Tỷ số này được gọi là tỷ suất sinh lời. Tỷ suất sinh lời là tỷ số tài chính phản ánh KNSL của một ngân hàng. Là hệ số kết hợp giữa lợi nhuận ròng với tổng tài sản hay vốn, thể hiện một đồng tài sản hay vốn thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng.
Tỷ suất sinh lời giúp cho nhà quản trị biết được tình hình hoạt động hiện tại của ngân hàng mình để có thể đưa ra chiến lược phù hợp cho hoạt động kinh doanh sắp tới. Do cấu thành từ tỷ lệ của lợi nhuận ròng trên tổng tài sản hay vốn chủ sở hữu. Tỷ suất sinh lời sẽ tăng lên khi tổng tài sản và vốn không còn lợi nhuận ròng tăng hay mức tăng của lợi nhuận ròng cao hơn mức tăng của vốn và tài sản, trong trường hợp này NH hoạt động đang có lãi. Trái lại trong điều kiện vốn và tài sản không đổi lợi nhuận ròng lại giảm hay vốn và tài sản tăng lên nhưng lợi nhuận ròng lại không tăng hay có thể giảm xuống, thông qua tỷ suất sinh lời lúc này thì NH đang thua lỗ trong hoạt động kinh doanh.
Vậy tùy thuộc và điều kiện hiện tại mà trong quá trình xem xét tỷ suất sinh lời của NH để đưa ra kết luận đúng nhất cho tình hình hoạt động, theo Phan Thị Thu Hà (2013).2 Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại. Để đo lường hiệu quả KNSL, các NH thường sử dụng tỷ suất sinh lời. Tỷ suất sinh lời là chỉ tiêu trả lời cho câu hỏi cuối cùng là NH hoạt động có hiệu quả như thế nào, là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động 10 trong một thời kỳ nhất định và luận cứ quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra quyết định tài chính trong tương lai. Tỷ suất sinh lời có nhiều dạng khác nhau nhưng trong bài nghiên cứu này tác giả chỉ sử dụng một số tỷ suất sinh lời như: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu.1 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA – Return on assets) Theo Emre, H.
(2012), thì tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA – Return on assets) là chỉ số tài chính dùng để đo lường mối quan hệ của lợi nhuận ròng trên tổng tài sản. ROA cho biết cứ mỗi đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả trong quản lý doanh thu và chi phí, đồng thời phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàng thành lợi nhuận ròng. Lợi nhuận ròng 𝑅𝑂𝐴 = * 100% Tổng tài sản Tỷ số thông thường lớn hơn 0, nghĩa là NH kinh doanh có hiệu quả.
Tỷ số này cao hơn thì tốt hơn vì NH thu nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn. Còn tỷ số nhỏ hơn 0, NH kinh doanh không hiệu quả. ROA cung cấp cho các nhà đầu tư thông tin về khoản lãi được tạo ra từ lượng tài sản của ngân hàng. Tài sản được tạo ra từ vốn vay và vốn chủ sở hữu.
Cả hai nguồn này được sử dụng để tài trợ cho hoạt động NHTM. Hiệu quả của chu chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA.2 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on equity) Theo Emre, H. (2012), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on equity) là chỉ số tài chính dùng để đo lường mối quan hệ giữa lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu. ROE cho thấy mỗi đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
ROE đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường. 11 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 𝑅𝑂𝐸 = * 100% 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 ROE càng cao chứng tỏ ngân hàng sử dụng càng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, và cũng chứng tỏ là ngân hàng đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay để khai thác lợi thế cạnh tranh trong quá trình huy động vốn và mở rộng quy mô. Cho nên ROE càng cao thì càng hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Tuy nhiên, ROE tăng cao cũng có thể đồng hành cùng sự tăng lên của rủi ro, như khi ROE tăng do vốn tự có bình quân giảm so với lợi nhuận sau thuế.
Vốn tự có bình quân giảm mạnh có thể làm cho ngân hàng vi phạm quy định về vốn pháp định tối thiểu đồng thời làm tăng rủi ro thanh khoản cho ngân hàng hay trường hợp khác ROE tăng do tăng tỷ suất nợ trên vốn của ngân hàng. Sự khác biệt giữa ROA và ROE là việc ngân hàng có sử dụng vốn vay hay không. Nếu ngân hàng không có vốn vay thì hai tỷ số này sẽ bằng nhau. Mối quan hệ ROA và ROE thể hiện bằng công thức sau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑅𝑂𝐸 = 𝑥 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 = ROA x hệ số đòn bẩy tài chính Hệ số đòn bẩy tài chính thể hiện giữa nguồn vốn vay và vốn chủ sở hữu, thể hiện khả năng tự chủ về tài của ngân hàng.
Hệ số này cũng cho phép đánh giá tác động tích cực hoặc tiêu cực của việc vay vốn đến ROE. Cụ thể là, hệ số đòn bẩy tài chính đánh giá mức độ mà một ngân hàng tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng vốn vay. Khi một doanh nghiệp vay tiền thì nó luôn phải thực hiện một chuỗi thanh toán cố định. Do các cổ đông chỉ nhận được những gì còn lại khi đã chi trả cho chủ nợ, nợ vay được xem như tạo ra đòn bẩy tài chính.
Nợ vay ở mức phù hợp sẽ tạo kết quả kinh doanh tốt tuy nhiên nếu nợ vay quá cao (Hệ số đòn bẩy tài chính cao) thì doanh nghiệp sẽ không có khả năng trả nợ. Do đó hệ số đòn 12 bẩy tài chính giúp doanh nghiệp chọn cấu trúc vốn hợp lý.