chương I là nhằm giới thiệu một cách tổng quan các nghiên cứu nước ngoài cũng như các nghiên cứu trong nước liên quan đến các vấn đề như kiểm soát nội bộ, kiểm soát nội bộ hữu hiệu, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ. Trên cơ sở đánh giá các công trình nghiên cứu đó, tác giả đã xác định được khe hổng nghiên cứu, từ đó làm cơ sở để tác giả xác định vấn đề cần nghiên cứu và định hướng nghiên cứu cho luận văn sẽ được trình bày trong những chương tiếp theo của luận văn. Từ việc phân tích và đánh giá các công trình nghiên cứu được tác giả trình bày ở phần tổng quan các nghiên cứu nước ngoài, cũng như phần tổng quan các nghiên cứu trong nước, thông qua phần nhận xét tổng quan các nghiên cứu, có thể kết luận rằng việc nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn là một vấn đề mới mẻ. Từ những nhận xét này, tác giả đề xuất hướng nghiên cứu cho những chương tiếp theo.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ 2.1 Khái niệm Định nghĩa về kiểm soát nội bộ được trình bày lần đầu tiên vào năm 1949 bởi Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA). Theo đó, kiểm soát nội bộ được định nghĩa là một kế hoạch cùng với sự phối hợp các phương pháp và cách thức được thực hiện bởi doanh nghiệp để giữ an toàn cho tài sản của mình, kiểm tra những ẩn chứa cũng như độ tin cậy của dữ liệu, để gia tăng hiệu quả và đảm bảo quản trị doanh nghiệp được ổn định. Tuy nhiên, định nghĩa này không ngừng được cải thiện, và ngày nay có nhiều quan niệm cho rằng hệ thống kiểm soát nội bộ là một trong những phương tiện của ban lãnh đạo giúp đảm bảo an toàn cho tài sản cũng như sự phát triển bình thường của doanh nghiệp. Năm 1992, mô hình COSO xuất hiện; phân tích của mô hình này phân biệt các khái niệm về rủi ro và kiểm soát nội bộ.
Hiện nay, khái niệm về kiểm soát nội bộ không chỉ liên quan đến các sai sót kế toán và các biện pháp được thực hiện để phòng tránh sai sót, mà còn là một quan điểm hiện đại để xác định sự ảnh hưởng của quản trị và các quy trình kiểm soát. Những vụ sụp đổ của các công ty có quy mô toàn cầu như Enron, Worldcom, Ahold, Parmalat,… đã dẫn đến sự ra đời Đạo luật Sarbanes-Oxley tại Hoa Kỳ năm 2002, trong đó chú ý tập trung vào tính hiệu quả và sự đánh giá của hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp. Một đạo luật quan trọng như Đạo luật Sarbanes-Oxley đã cho thấy không chỉ hệ thống kiểm soát nội bộ phải được cụ thể hoá và xác định rõ ràng, mà các phương tiện thực hiện hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá hiệu quả của nó cũng phải được bảo đảm. Khái niệm về kiểm soát nội bộ đã liên tục được phát triển bởi các nhà khoa học như A.
Các khái niệm về kiểm soát nội bộ được tổng hợp như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Các định nghĩa về kiểm soát nội bộ Tác giả Năm Nội dung COSO 1992 Kiểm soát nội bộ là một quá trình, chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng Quản trị, người quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu về hoạt động, báo cáo tài chính và tuân thủ A. King 2011 Kiểm soát nội bộ là một quá trình mà thông qua đó doanh nghiệp đạt được các mục tiêu và kết quả, cũng như giúp các nhà điều hành lên kế hoạch hoạt động, điều chỉnh và giám sát trong toàn bộ doanh nghiệp hoặc từng bộ phận riêng lẻ. INTOSAI 2004 Kiểm soát nội bộ là một quá trình kết hợp được thực hiện bởi các nhà điều hành và nhân viên của tổ chức nhằm hướng đến việc xác định các yếu tố rủi ro và theo đúng với sứ mạng hoạt động của tổ chức để đảm bảo thực hiện hợp lý các mục tiêu phổ biến: - Hoạt động bình thường, có đạo đức, tiết kiệm, đạt hiệu quả và hiệu suất; - Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thanh toán; - Tuân thủ luật pháp và các đạo luật thông thường; - Bảo vệ tài nguyên khỏi sự mất mát, sử dụng không đúng và thiệt hại; kiểm soát các yếu tố rủi ro có liên quan. CobiT 2007 Kiểm soát nội bộ là một quá trình bao gồm các quy tắc, thủ tục, hoạt động và cấu trúc tổ chức được thiết lập để đảm bảo đạt được các mục tiêu kinh doanh và tránh các sự kiện không mong muốn, hoặc có thể phát hiện và xử lý chúng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Pfister 2009 Kiểm soát nội bộ là một hệ thống về phòng tránh, nhận biết và sửa chữa những sai sót có thể xảy ra trong quá trình xử lý thông tin. Barnabas 2011 Kiểm soát nội bộ là một tập hợp các thành phần của công ty (bao gồm tài nguyên, hệ thống, các quy trình, văn hoá, cấu trúc và nhiệm vụ) giúp nhân viên đạt được mục tiêu của công ty. Simmons 1995 Kiểm soát nội bộ là một quy trình chung cần thiết được xây dựng để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu sau đây: - Hoạt động đạt hiệu quả và có tính kinh tế; - Sự tin cậy trong kế toán tài chính; - Tuân thủ luật lệ và quy định.
Shim 2011 Kiểm soát nội bộ là một phần của hệ thống quản trị doanh nghiệp. Nó là một kế hoạch, cùng với các phương tiện và cách thức nhằm bảo vệ tài sản, kiểm tra tính đúng đắn trong hoạt động, đảm bảo tính hiệu quả và đường lối hoạt động của doanh nghiệp. Nó giúp phòng tránh sai sót, tìm và sủa chữa sai sót đúng lúc, để từ đó đạt được mục tiêu và đưa ra triển vọng. Lakis 2007 Kiểm soát nội bộ là một hệ thống kiểm soát được thực hiện bởi những người điều hành nhằm bố trí hoạt động của doanh nghiệp một cách chính xác theo chiến lược đã được xây dựng và đảm bảo sự an toàn cũng như sử dụng hợp lý tài sản, đảm bảo sự cặn kẽ và chính xác trong tính toán dữ liệu.
Bičiulaitis 2001 Kiểm soát nội bộ là một hệ thống kết hợp các phương thức và công cụ nhằm giúp kiểm soát rủi ro thông tin của môi trường kinh doanh, kiểm soát các quy trình và công tác quản trị. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mackevičius 2001 Kiểm soát nội bộ là một hệ thống được xem như một tập hợp các quy định, tiêu chuẩn và phương thức hiện hành, nhằm đảm bảo đường lối kinh doanh và các quy trình kinh tế của doanh nghiệp cũng như đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. DiNapoli 2007 Kiểm soát nội bộ được định nghĩa là một hệ thống kết nối hoạt động, các kế hoạch, quan điểm, sự liên kết hệ thống, quản trị nguồn nhân lực của tổ chức để giúp tổ chức đạt được các mục tiêu đã thiết lập và tiếp tục sứ mạng của mình.
Nguồn: tác giả tự tổng hợp Với nhiều quan điểm khác nhau về HTKSNB trên thế giới và nhu cầu đánh giá thế nào là một HTKSNB hữu hiệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các hội nghề nghiệp, tổ chức, báo cáo COSO ra đời nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ và đưa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị có thể xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu. Ngoài ra, với định nghĩa về HTKSNB, báo cáo COSO đã phân tích được sự khác biệt giữa khái niệm rủi ro và KSNB, phân tích chuyên sâu vào từng bộ phận cấu thành, giúp các nhà quản lý thực hiện kiểm soát tốt hơn. Báo cáo của COSO 1992 được công bố dưới tiêu đề “Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất” (Internal Control – Intergrated framework) đã định nghĩa về kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình, chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng Quản trị, người quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu về hoạt động, báo cáo tài chính và tuân thủ” Trong đó: - Kiểm soát nội bộ là một quá trình, bởi: Hệ thống kiểm soát nội bộ không chỉ là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà chúng được vận hành liên tục ở tất cả mọi cấp độ trong doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 - Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bới con người: Vì kiểm soát nội bộ không chỉ là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu đơn điệu, độc lập,… mà phải bao gồm cả yếu tố con người – Hội đồng quản trị, ban giám đốc, nhân viên của tổ chức.
Chính con người định ra mục tiêu kiểm soát và thiết lập nên cơ chế kiểm soát và vận hành chúng. Cụ thể, HĐQT và các nhà quản trị cấp cao chịu trách nhiệm cho việc thiết lập một văn hoá phù hợp nhằm hỗ trợ cho quy trình KSNB hiệu quả, giám sát tính hiệu quả của hệ thống này một cách liên tục. Tất cả các thành viên của tổ chức đều tham gia vào quy trình này. - KSNB chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản trị trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức chứ không thể đảm bảo một cách tuyệt đối.
Điều này xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống KSNB như: sai lầm của con người khi đưa ra quyết định, sự thông đồng của các cá nhân, sự làm quyền của nhà quản lý… dẫn đến việc không thực hiện được mục tiêu. Việc kiểm soát nội bộ có thể làm là ngăn chặn và phát hiện sai phạm nhưng không thể đảm bảo chắc chắn sẽ không xảy ra sai phạm nữa, hay một lí do khác là chi phí cho quá trình kiểm soát nội bộ không thể vượt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó nên không thể có một HTKSNB hoàn hảo. QUÁ TRÌNH Hữu hiệu, Hội đồng hiệu quả của quản trị các hoạt động Người KIỂM SOÁT Độ tin cậy NỘI BỘ thông tin quản lý Tuân thủ Nhân viên pháp luật và ĐẢM BẢO quy định HỢP LÝ Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống kiểm soát nội bộ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.