Chương 1. Giới thiệu đề tài nghiên cứu: Nêu tính cấp thiết của đề tài, các mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của đề tài. Lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đến chất lượng tín dụng và nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng: Trình bày các cơ sở lý thuyết có liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, các kết quả thực nghiệm gần đây trên thế giới và Việt Nam có liên quan đến đề tài. Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu: Trình bày về dữ liệu và các nguồn thu thập, cách thức tính toán và xử lý dữ liệu đáp ứng yêu cầu của đề tài.
Trình bày phương pháp xây dựng chỉ số Z, mô hình sử dụng và các phương pháp kiểm định mô hình. Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả về việc xây dựng chỉ số chất lượng tín dụng ước lượng và kiểm định mô hình nghiên cứu. Kết luận và giải pháp: Trình bày các kết luận về đề tài nghiên cứu, đề xuất các giải pháp ổn định và nâng cao chất lượng tín dụng ở ACB, xác định vai trò của mô hình đối với việc kiểm tra sức chịu đựng tại ngân hàng. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG Chương này trình bày các cơ sở lý thuyết về chất lượng tín dụng và tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
Về cơ sở lý thuyết, nội dung của chương tập trung vào các khái niệm về chất lượng, chất lượng tín dụng và các phương pháp đo lường chất lượng tín dụng, đặc biệt là phương pháp đo lường thông qua sự chuyển dịch xếp hạng. Về các nghiên cứu thực nghiệm, nội dung của chương đưa ra các lập luận và bằng chứng trên thế giới và Việt Nam về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, trong đó các yếu tố được chia thành hai nhóm gồm nhóm các yếu tố vĩ mô và nhóm các yếu tố vi mô. Cơ sở lý thuyết về chất lượng tín dụng 2. Khái niệm chất lượng tín dụng 2.
Khái niệm chung về chất lượng Thuật ngữ "chất lượng" có một ý nghĩa tương đối. Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau sẽ có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau. Theo Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO: International Organization for Standardization), chất lượng là mức độ mà một tập hợp các đặc tính vốn có của một đối tượng đáp ứng các yêu cầu trong đó các yêu cầu là nhu cầu hoặc kỳ vọng được nêu ra, thường là ngụ ý hoặc bắt buộc. Đối tượng được nhắc đến trong định nghĩa bao gồm: hàng hóa, dịch vụ, quy trình, cá nhân, tổ chức, hệ thống hoặc nguồn lực.
Khái niệm chất lượng tín dụng Dựa trên định nghĩa về chất lượng của ISO, chất lượng tín dụng có thể được xem là mức độ mà các đặc tính vốn có của các khoản tín dụng đáp ứng các yêu cầu của bên cấp tín dụng. Các đặc tính và yêu cầu có thể kể đến bao gồm: Dòng tiền trả nợ gốc và lãi cần phải được thanh toán đủ số lượng và đúng hạn. Đây là đặc tính cốt lõi mà hầu hết các ngân hàng, tổ chức tín dụng hay các cá nhân, tổ chức có tham gia cấp tín dụng đều quan tâm. 8 Mục đích sử dụng phù hợp với chính sách tín dụng nói riêng cũng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nói chung.
Tài sản thế chấp phải được đảm bảo về mặt pháp lý cũng như có giá trị phù hợp với khoản vay để đảm bảo tính an toàn. Lãi suất và kỳ hạn: cần phải ở mức phù hợp để phù hợp với mặt bằng chung của thị trường, đảm bảo khả năng trả nợ của người đi vay cũng như lợi nhuận của bên cho vay. Các thông tin khác về bên vay vốn cần được đảm bảo tính trung thực và đáp ứng các yêu cầu mà bên cho vay đưa ra. Ở một góc nhìn khác, chất lượng tín dụng là một khái niệm dùng để phản ánh mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Theo đó, chất lượng tín dụng có thể được đánh giá trên 03 phương diện: bên đi vay, bên cho vay và nền kinh tế. Đối với bên đi vay: chất lượng tín dụng được thể hiện qua phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với năng lực của bản thân người đi vay, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi. Đối với bên cho vay: chất lượng tín dụng được thể hiện qua mức lãi suất và kỳ hạn hợp lý, đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường và đúng với các nguyên tắc tín dụng. Đối với nền kinh tế: chất lượng tín dụng được thể hiện qua việc thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tận dụng tốt các nguồn lực trong nền kinh tế, củng cố mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, nói một cách tổng quát, có thể hiểu chất lượng tín dụng “là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu vay vốn hợp lý của khách hàng; phù hợp với chính sách tín dụng, bảo đảm an toàn, giảm thiểu rủi ro và mang lại hiệu quả kinh tế cho ngân hàng; đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội như một tổng thể” (Nguyễn Văn Tiến, 2015) 2. Đo lường chất lượng tín dụng 2. Đo lường chất lượng tín dụng thông qua chỉ tiêu nợ xấu 9 Các nghiên cứu trước đây thường sử dụng tỷ lệ nợ xấu (NPL ratio) như thước đo chất lượng tín dụng vì đây là biểu hiện của rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn. Tỷ lệ nợ xấu cao đồng nghĩa với chất lượng tín dụng thấp và ngược lại.
Tuy nhiên đo lường thông qua tỷ lệ nợ xấu có điểm bất cập. Đó là tỷ lệ nợ xấu được xác định dựa trên tỷ lệ số dư các khoản nợ xấu so với tổng dư nợ tín dụng, do đó con số này có thể không phản ánh chính xác chất lượng tín dụng tại một ngân hàng vì bị ảnh hưởng bởi độ lớn của dư nợ tín dụng. Các khách hàng sẽ có dư nợ tín dụng khác nhau, nếu một ngân hàng có rất nhiều khách hàng nhỏ vỡ nợ thì tỷ lệ nợ xấu tăng lên không phản ánh đúng chính xác khả năng vỡ nợ của các khách hàng mà ngân hàng đó đang cơ nguy cơ gặp phải. Đo lường chất lượng tín dụng thông qua sự chuyển dịch xếp hạng Theo cách tiếp cận của Gupton, Finger, và Bhatia (1997), chất lượng tín dụng có thể được đo lường thông qua khả năng (xác suất) chuyển dịch giữa các nhóm xếp hạng tín dụng.
Đây là phương pháp đo lường chất lượng tín dụng có nhiều ưu việt hơn so với phương pháp đo lường theo tỷ lệ nợ xấu, vì dựa trên xác suất chuyển dịch giữa các nhóm xếp hạng tín dụng và con số xác suất được xác định dựa trên số lượng khách hàng ở các nhóm hạng tín dụng. Theo đó, cách tiếp cận này phản ánh chính xác khả năng vỡ nợ của các khách hàng mà ngân hàng đang phải đối mặt và điều này mới phản ánh chính xác hơn về chất lượng tín dụng của ngân hàng (theo Gupton và cộng sự (1997) và Belkin và cộng sự (1998)). Dựa trên cách tiếp cận của Gupton và cộng sự (1997) và Belkin và cộng sự (1998), giả định rằng sự chuyển dịch từ một nhóm sang các nhóm xếp hạng tín dụng sau 1 năm được thể hiện bởi một chỉ số X và X sẽ tuân theo quy luật phân phối xác suất chuẩn tắc. Xét tại một nhóm xếp hạng là BBB, xác suất chuyển dịch sang các nhóm xếp hạng khác từ nhóm BBB được thể hiện trong hình dưới đây: 10 Hình 2.
Chỉ số X và sự chuyển dịch các nhóm xếp hạng Mật độ xác suất XBBB = 0 BBB (88%) BB A (5%) XBBB (5%) xB xBB xBBB xA Theo Hình 2.1 trên, do nhóm xếp hạng ban đầu là BBB, do đó theo hình dạng của phân phối xác suất chuẩn tắc thì khả năng cao chất sẽ không có sự chuyển dịch sang nhóm nợ khác sau 1 năm mà sẽ giữ nguyên xếp hạng là BBB (ví dụ là 88%), xác suất này là được tính bằng ϕ(xBBB ) − ϕ(xBB ) với ϕ là hàm phân phối xác suất tích lũy, ϕ(xBBB ) chính là xác suất để các khách hàng ở nhóm BBB chuyển sang các nhóm từ BBB trở xuống, tương tự ϕ(xBB ) chính là xác suất để các khách hàng ở nhóm BBB chuyển sang các nhóm từ BB trở xuống. Một cách tương tự xác suất để khách hàng nhóm BBB chuyển lên nhóm A chính là ϕ(xA ) − ϕ(xBBB ) hay xác suất để nhóm BBB chuyển xuống nhóm BB là ϕ(xBB ) − ϕ(xA ). Một cách tổng quát sẽ có công thức sau đây: P(G → g) = ϕ(xg+1 ) − ϕ(xg ) Với G là nhóm xếp hạng ban đầu, g là nhóm xếp hạng chuyển đến sau 1 năm. Φ là hàm phân phối xác suất tích lũy, xg các giá trị ngưỡng sao cho ϕ(xg ) là xác suất để nhóm xếp hạng G chuyển đến nhóm nhỏ hơn hoặc bằng g.1 cũng thể hiện xác suất chuyển dịch sang các nhóm xếp hạng từ nhóm BBB ở trạng thái trung bình dựa trên dữ liệu lịch sử, do đó phân phối xác suất mang tính chất 11 đối xứng, tức là xác suất nhóm BBB chuyển sang nhóm tốt hơn hay xấu hơn liền kề sẽ tương đối bằng nhau.
Xét ở một số thời kỳ, ví dụ như trong pha tăng trưởng của nền kinh tế, xếp hạng tín dụng của khách hàng thường sẽ có khả năng cao chuyển sang nhóm tốt hơn nhóm xấu, ngược lại trong pha suy thoái thì xác suất chuyển sang các nhóm xấu sẽ cao hơn. Chuyển dịch nhóm xếp hạng trong pha tăng trưởng Mật độ xác suất (4) (2) (3) XBBB (1) xB xBB xBBB xA Ở Hình 2.2, đường phân phối xác suất nét liền thể hiện cho trạng thái chuyển dịch nhóm xếp hạng trong pha tăng trưởng của nền kinh tế và đường nét đứt là ở trạng thái trung bình. Theo đó ý nghĩa về mặt xác suất như sau: Diện tích vùng (1) là xác suất chuyển dịch từ BBB xuống BB ở trạng thái pha tăng trưởng. Diện tích vùng (1) + (2) là xác suất chuyển dịch từ BBB xuống BB ở trạng thái trung bình.
Xác suất chuyển sang nhóm xấu thấp hơn khi trong pha tăng trưởng.