CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM 1. Tín dụng và rủi ro tín dụng của công ty CTTC 1. Tổng quan về CTTC 1. Nguồn gốc và sự phát triển của hoạt động CTTC Theo các văn tự cổ, hoạt động cho thuê tài sản (leasing) ra đời rất sớm từ năm 2800 trước Công Nguyên tại Thành phố Sumerian gần vịnh Ba Tư (nay là một phần thuộc Iraq).
Ở thời kỳ này, người cho thuê là các thầy tu nắm giữ tư liệu sản xuất và người đi thuê là những người nông dân tự do. Tài sản được đem giao dịch bao gồm: các công cụ sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, súc vật kéo, nhà cửa, ruộng đất và nhiều tài sản đa dạng khác nữa… Vào khoảng năm 1700 trước Công nguyên, vua Babylon là Hamnurabi đã ban hành nhiều văn bản quan trọng tạo thành một bộ luật lớn, trong đó có đưa ra những quy định về hoạt động cho thuê tài sản. Trong các nền văn minh cổ đại khác như Hy Lạp, La Mã hay Ai Cập cũng đã xuất hiện những người cho thuê công cụ lao động, đất đai, gia súc… để phục vụ cho hoạt động sản xuất, buôn bán thời bấy giờ. Tuy nhiên các giao dịch cho thuê tài sản diễn ra ở thời kỳ trước mới chỉ là hoạt động cho thuê theo kiểu truyền thống.
Phương thức giao dịch của nó tương tự như giao dịch cho thuê vận hành ngày nay. Và trong suốt thời gian hàng ngàn năm lịch sử, tính chất giao dịch của hình thức này gần như không đổi. Mãi đến giữa thế kỷ XX, hoạt động cho thuê mới trở thành một ngành kinh doanh thực sự. Công ty chuyên hoạt động cho thuê đầu tiên được thành lập vào tháng 05/1952 đó là Công ty cho thuê Hoa Kỳ (United States Leasing Corporation).
Cũng chính Công ty này đã làm cho hoạt động cho thuê tài sản có sự phát triển và thay đổi về chất bằng việc cho ra đời một hình thức cho thuê tài sản mới gọi là CTTC (finance lease), hay còn gọi là cho thuê vốn (capital lease). Hình thức cho thuê này không còn mang tính chất của giao dịch cho thuê tài sản thông thường nữa mà đã mang tính chất TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- của một hoạt động tín dụng. Sau đó, hình thức CTTC phát triển sang Châu Âu và đã được ghi vào luật thuê mua của Pháp năm 1960 với tên gọi “Credit Bail”. Tại Châu Á, Nhật Bản là quốc gia có ngành kinh doanh cho thuê ra đời sớm nhất.
Công ty cho thuê đầu tiên của Nhật được thành lập vào năm 1963, đó là Công ty cho thuê Orient (Orient Leasing Corporation). Đầu những năm 70 hoạt động CTTC cũng bắt đầu xuất hiện ở Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia. Và đến cuối những năm 70 đầu 80, hoạt động CTTC đã phát triển hầu hết ở các nước Châu Á. So với các nước Châu Á, ngành công nghiệp cho thuê thâm nhập vào Việt Nam có phần muộn hơn.
Kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định đầu tiên là Nghị định 64/CP về “Qui chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC tại Việt Nam” ngày 09/10/1995, cho đến nay cả nước có 13 công ty CTTC hoạt động, bao gồm các công ty CTTC trực thuộc các ngân hàng thương mại, công ty CTTC liên doanh và công ty CTTC 100% vốn nước ngoài (Xem phụ lục 1: Các Công ty CTTC tại Việt Nam) 1. Định nghĩa CTTC Tiêu chuẩn kế toán quốc tế số 17 (IAS 17) của Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC) định nghĩa về CTTC như sau: “Một giao dịch cho thuê tài sản được xác định là CTTC nếu giao dịch đó chuyển dịch về căn bản mọi rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản đó”. Dựa vào định nghĩa này việc xác định một giao dịch cho thuê là CTTC hay cho thuê vận hành tùy thuộc chính vào bản chất của giao dịch hơn là hình thức của giao dịch cho thuê. Tuy nhiên, tại IAS 17 cũng đưa ra một số đặc điểm cơ bản để nhận biết một giao dịch CTTC như sau: Quyền sở hữu tài sản thuê được chuyển giao cho người thuê khi kết thúc hợp đồng.
Hợp đồng quy định quyền chọn mua tài sản thuê với mức giá tượng trưng tại thời điểm chấm dứt hợp đồng. Thời hạn hợp đồng chiếm phần lớn thời hạn hữu dụng của tài sản. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- Hiện giá của toàn bộ các khoản tiền thuê do người thuê trả tương đương hoặc lớn hơn giá thị trường của tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng. Trên cơ sở định nghĩa và các đặc điểm nhận biết theo IAS 17, mỗi quốc gia đều có những quy định cụ thể về giao dịch CTTC dựa trên đặc điểm riêng có của mỗi nước.
Mặc dù có những điểm khác biệt nhất định, song về cơ bản chúng không mâu thuẫn với IAS 17 và tuỳ theo mức độ, những quy định này có thể chi tiết, cụ thể hơn. Tại Việt Nam, CTTC đã chính thức ra đời từ năm 1995 gắn với văn bản pháp luật đầu tiên là Thể lệ tín dụng thuê mua theo quyết định số 149/QĐ-NH5 ngày 27/05/1995 của Thống đốc NHNN VN. Nhưng mãi đến năm 1997, một định nghĩa chính thức về CTTC mới được đưa ra tại Luật các TCTD được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/12/2007 và có hiệu lực từ ngày 01/10/1998. Dưạ trên nền tảng đó, ngày 02/05/2001, Nghị định số 16/2001/NĐ-CP về “ Tổ chức và hoạt động của công ty CTTC” có hiệu lực đã đưa ra một định nghĩa chi tiết và đầy đủ hơn về CTTC như sau: “CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê.
Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận. Hoạt động tín dụng của công ty CTTC 1. Phân biệt giữa CTTC và tín dụng ngân hàng CTTC là một phương thức tài trợ vốn cho nền kinh tế và được sử dụng rất rộng rãi tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.
CTTC là phương thức cho thuê tài sản trung dài hạn mà trong thời gian đó bên cho thuê chuyển giao tài sản cho bên thuê sử dụng. Bên thuê có trách nhiệm định kỳ thanh toán tiền thuê theo hợp đồng cho bên cho thuê. Khi hợp đồng cho thuê hết hạn, bên thuê được quyền mua tài sản hoặc thuê tiếp hoặc cũng có thể trả lại cho bên cho thuê. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- Trong thời gian thuê tài chính, tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê nhưng vai trò thực sự của bên cho thuê chỉ là cung cấp nguồn tài chính trung dài hạn cho bên thuê.
Do đó, CTTC và tín dụng trung dài hạn có những điểm giống nhau cơ bản sau: • Bên cho thuê chuyển giao cho bên thuê một lượng giá trị dưới hình thức tài sản, trong khi bên cho vay chuyển giao cho bên vay một lượng giá trị dưới hình thức tiền tệ trong một khoảng thời gian trung dài hạn. • Bên thuê hay bên vay phải hoàn trả cho bên cho thuê hay bên cho vay toàn bộ vốn gốc và lãi trong thời gian ký kết hợp đồng. CTTC tài trợ vốn dưới hình thức tài sản nên CTTC không phải là phương pháp thay thế tín dụng trung dài hạn mà chỉ là hình thức tín dụng trung dài hạn đặc biệt, làm đa dạng hóa các nghiệp vụ tín dụng. CTTC cũng chứa đựng đầy đủ các tính chất cơ bản của tín dụng trung dài hạn như tính hoàn trả, tính thời hạn và lãi suất.
Tính hoàn trả. Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ định kỳ bên thuê phải thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê. Bên thuê được quyền sử dụng tài sản tức là đã sử dụng vốn của bên cho thuê dưới hình thức sử dụng tài sản. Trong CTTC, vốn gốc thường được hoàn trả lại phần lớn bằng tiền và một phần có thể bằng tài sản.
Điều này có nghĩa là trong thời gian hiệu lực của hợp đồng CTTC (tức thời gian sử dụng tài sản), vốn gốc được hòan trả bằng tiền và khi kết thúc hợp đồng thì bên thuê có thể lựa chọn hoàn trả toàn bộ bằng tiền (mua lại tài sản) hoặc hoàn trả một phần bằng tài sản (trả lại tài sản thuê). Điều này có một chút khác biệt là trong tín dụng trung dài hạn, vốn gốc được hoàn trả toàn bộ bằng tiền vì đó là hình thức tài trợ vốn dưới hình thức tiền tệ. Tính thời hạn. Tính thời hạn được quy định trong hợp đồng CTTC tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê dựa trên thời gian hữu dụng của tài sản và khả năng tài chính của bên đi thuê.
Thời gian thuê thông thường là trung dài hạn, và khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê phải hoàn trả cho bên cho thuê toàn bộ vốn gốc và lãi dưới hình thức thanh toán tiền thuê. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trong CTTC có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản thuê. Bên cho thuê mặc dù sở hữu tài sản những sẽ sử dụng nó mà cho thuê để thu lãi.
Lãi suất cho thuê thường dựa trên lãi suất cho vay trung dài hạn trên thị trường, thêm vào đó tùy thuộc vào mức độ rủi ro của từng dự án cho thuê và tình hình vốn đầu vào của bên cho thuê. Các phương thức CTTC Ngày nay, bên cạnh các phương thức tài trợ bằng vốn chủ sở hữu, vốn vay, phát hành trái phiếu,…CTTC đã và đang trở thành phương thức tài trợ vốn quan trọng cho các doanh nghiệp không chỉ ở các nước phát triển, mà cả các nước đang phát triển. Tại mỗi quốc gia, mỗi khu vực hoạt động CTTC đều có những đặc điểm khác nhau thể hiện sự phong phú và linh hoạt của hình thức kinh doanh này. Nhưng tựu chung lại, CTTC có một số phương thức phổ biến sau: (1) Phương thức CTTC cơ bản (1a) CTTC hai bên Theo phương thức này, trước khi cho thuê, tài sản cho thuê đã thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê bằng cách mua tài sản hoặc tự xây dựng.
Phương thức CTTC chỉ có sự tham gia của hai bên là bên cho thuê và bên thuê được thực hiện theo quy trình sau: Hình 1.