chương 1, tác giả giới thiệu khái quát những nội dung lý thuyết cơ bản như nợ xấu, nguyên nhân dẫn đến nợ xấu, vấn đề XLNX của các NHTM cùng với những bài học kinh nghiệm cho SHAMC từ các mô hình XLNX trong khu vực Đông Á và trên thế giới.1 Tổng quan về nợ xấu của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm nợ xấu Hoạt động tín dụng của ngân hàng là một loại hình hoạt động kinh doanh đặc thù có khả năng mang nhiều rủi ro hơn so với các ngành sản xuất hay dịch vụ khác. Về cơ bản, hoạt động tín dụng được thực hiện dựa trên một loại hàng hóa đặc biệt là “tiền tệ”, bên cạnh đó lại vận hành theo cơ chế thị trường theo một mạng lưới giao dịch rộng khắp với nhiều thành phần kinh tế khác nhau thuộc mọi tầng lớp dân cư; điển hình như trình độ nhận thức, khả năng tiếp cận thông tin và môi trường sống đa dạng…cũng là tác nhân chính dẫn đến những RRTD đáng kể cho ngân hàng. Ngân hàng luôn phải gánh chịu những tổn thất về tài chính khi RRTD xảy ra tuy nhiên ảnh hưởng nhiều hay ít còn phù thuộc vào mức độ rủi ro do nợ mang lại. Nợ xấu (NPL – Non - performing loans) là những khoản cho vay có thể gây tổn hại cho các hoạt động tài chính của các tổ chức ngân hàng (Berger, N.
and De Young, R. Nợ xấu có thể định nghĩa là các khoản nợ không trả được (Defaulted loans) mà ngân hàng không thể thu lợi từ nó (Ernst and Young, 2004) hoặc được thay thế bằng nợ khó đòi (Fofack, H. Đồng thời, nợ xấu được mô tả là các khoản cho vay quá hạn thanh toán ít nhất 90 ngày (Alton, G., 2011), nợ xấu cũng được khái niệm là các khoản cho vay không thanh toán đầy đủ lãi và/ hoặc gốc 90 ngày trở lên theo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 nghiên cứu của Bexley ,B. Theo định nghĩa của Ủy ban thống kê Liên hiệp quốc (AEG) thì “một khoản nợ về cơ bản được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi hoặc gốc trên 90 ngày hay các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.
Từ năm 2005, Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và Chuẩn mực Kế toán quốc tế 39 (IAS) đã khuyến cáo sử dụng định nghĩa khác về nợ xấu. Theo đó, IFRS và IAS cũng chú ý khả năng hoàn trả của khách hàng cho dù thời gian của khoản vay chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn, bằng việc sử dụng phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay theo từng khách hàng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, điều này được coi là hoàn toàn chính xác về mặt lý thuyết, tuy nhiên trong thực tế việc áp dụng gặp không ít khó khăn, chính vì thế IAS vẫn đang tiếp tục nghiên cứu để hoàn chỉnh hơn nữa trong IFRS 9. Trong hướng dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (FSIs), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng đưa ra định nghĩa về nợ xấu “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (chẳng hạn trong trường hợp người vay bị phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay thay thế”.
Theo Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) thì không đưa ra bất cứ định nghĩa cụ thể nào về nợ xấu. Tuy nhiên, trong hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý RRTD, BCBS đã xác định việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra. Thứ nhất là ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 hiện hành động nào để gắng thu hồi; hoặc thứ hai là người vay đã quá hạn trả nợ trên 90 ngày. Theo Basel II, các ngân hàng đã lựa chọn mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng.
Như vậy, có thể hiểu nợ xấu một cách khái quát là những khoản nợ mang các đặc trưng - Khách hàng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng khi các cam kết với ngân hàng đã đến hạn. Xét về thời gian, nợ xấu là các khoản nợ đã quá hạn thanh toán trên 90 ngày. - Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn đến có nhiều khả năng ngân hàng không thể thu hồi cả vốn gốc và lãi.2 Nguyên nhân nợ xấu Nguyên nhân từ phía ngân hàng Thứ nhất, năng lực thanh tra, giám sát, điều hành và quản trị rủi ro của NHTM chưa thực sự tốt khiến cho việc quản lý nợ của ngân hàng thiếu sự chặt chẽ và góp phần làm cho nợ xấu phát sinh (Berger, N. and De Young, R.
Đồng thời, nhân viên ngân hàng yếu kém về trình độ nghiệp vụ, thiếu đạo đức nghề nghiệp (Rouse, B. Nhân viên ngân hàng cố tình lợi dụng chức vụ quyền hạn cho vay sai quy định nhằm thu lại lợi ích riêng cho bản thân hoặc lợi ích của một nhóm người có liên quan. Ngoài ra, một số nhân viên tín dụng còn tồn tại nhiều yếu kém về trình độ nghiệp vụ, cụ thể như còn gặp nhiều sai sót trong công tác thẩm định, không phát hiện ra những dấu hiệu bất ổn về tài chính hay hành vi lừa đảo của khách hàng, song song với việc thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin, phân tích thông tin không đầy đủ… chính vì thế nhân viên ngân hàng không thể đưa ra hạn mức cho vay thích hợp và khó có thể giám sát chặt chẽ tình hình sử dụng vốn của khách hàng. Thứ hai, chính sách tín dụng của NHTM không phù hợp hoặc không được chấp hành nghiêm túc (Berger, N.
and De Young, R. Việc cho vay dễ dàng, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ và thêm vào đó là những bất cập trong việc phân hạn mức phê TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 duyệt cho vay đối với các cấp của NHTM là điều tất yếu dẫn đến nợ xấu tại các ngân hàng. Thứ ba, công tác thẩm định và định giá TSĐB chưa thực sự hiệu quả (Bloem, M. Giá trị TSĐB không được xác định đúng, các thông tin bên ngoài như thông tin về quy hoạch, tình hình tranh chấp hay môi trường xung quanh…không được thu thập đầy đủ và khách quan dẫn đến việc nợ xấu phát sinh khi khách hàng không có khả năng trả nợ và TSĐB không đủ giá trị để thu hồi; hoặc việc xảy ra sự cố đối với TSĐB trong quá trình khoản vay đã được ngân hàng giải ngân dẫn đến việc ngân hàng không còn quyền quản lý TSĐB đó nữa.
Vì vậy, việc dự báo giá trị tương lai của TSĐB không sát với tình hình thực tế cũng là một trong những nguyên nhân chính góp phần làm phát sinh nợ xấu. Thứ tƣ, công tác kiểm tra sau khi cho vay, quản lý và giám sát đối với TSĐB chưa được chú trọng (Bloem, M. Việc thiếu chú trọng, thiếu cập nhật tình trạng tài sản đúng thực tế khiến cho ngân hàng không thu hồi được nợ trong trường hợp TSĐB bị xuống cấp hoặc hư hỏng nặng, khách hàng bán TSĐB không qua ngân hàng cho bên thứ ba… làm tăng rủi ro nợ xấu cho ngân hàng vì những dấu hiệu phát sinh nợ xấu không được phát hiện và khắc phục kịp thời. Thứ năm, quy mô ngân hàng có thể tác động lên nợ xấu theo hướng tích cực (Ranjan, R., 2010) và chiều hướng tiêu cực (Salas, V.
Những ngân hàng lớn có thể đạt hiệu quả hơn trong việc XLNX nhờ đa dạng hóa danh mục cho vay. Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng các ngân hàng cho vay quá mức thường được xem là chỉ số quan trọng tác động đến các khoản nợ xấu theo nghiên cứu của Salas, V. Thứ sáu, về yếu tố lãi suất cho vay đã được Ranjan, R. (2003) sử dụng mô hình hồi quy chỉ ra rằng các yếu tố tài chính như lãi suất cho vay tác động tương đối đến nợ xấu.
Nghiên cứu của Waweru, M. (2009) tại các NHTM ở Kenya chỉ ra rằng lãi suất cao là một trong những yếu tố tác động đến nợ xấu. Bên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 cạnh đó, yếu tố tỷ lệ nợ xấu trước đây theo nghiên cứu của Jalan (2002) đã giải thích vấn đề nợ xấu có thể phát sinh đáng kể từ sự yếu kém trong quá trình thu hồi nợ hiện có, nguồn dự phòng rủi ro (DPRR) không tương xứng với các tài sản bị tịch thu, phá sản hay những khó khăn trong việc thi hành quyết định của tòa án. Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng đối với trường hợp của Việt Nam; đặc biệt là trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung; lãi suất gần như bằng 0 nhưng lại gây ra rất nhiều nợ xấu.
Nguyên nhân từ phía khách hàng Thứ nhất, khách hàng sử dụng vốn sai mục đích. Việc thiếu giám sát chặt chẽ từ phía ngân hàng sau khi giải ngân đã tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, đầu tư vào các lĩnh vực ngoài ngành nhằm thu về lợi nhuận cao hơn, tuy nhiên nếu các lĩnh vực này suy giảm thì việc doanh nghiệp mất khả năng trả nợ là điều không tránh khỏi. Đồng thời, khách hàng còn cố tình gian lận về số liệu chứng từ khi lập Báo cáo tài chính cung cấp cho ngân hàng nhằm có được một đánh giá tốt khi đi vay, lập chứng từ, giấy tờ giả qua mặt ngân hàng … Thứ hai, khách hàng cố tình lừa đảo, chiếm đoạt, bỏ trốn.