phần mở đầu, kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hoạt động xử lý nợ xấu trong các ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động xử lý nợ xấu của Ngân hàng TMCP Kỹ thƣơng Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015 Chƣơng 4: Đề xuất các giải pháp kiểm soát tình hình nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Kỹ thƣơng Việt Nam 3 CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài về nợ xấu ngân hàng. Vấn đề nợ xấu ngày càng thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm trong vài thập kỷ gần đây. Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng hậu quả trực tiếp của tỷ lệ nợ xấu tăng cao trong hệ thống ngân hàng là ngân hàng phá sản.
Rất nhiều nghiên cứu về nguyên nhân phá sản của ngân hàng chỉ ra rằng chất lƣợng tài sản là một yếu tố dự đoán vỡ nợ rất quan trọng về mặt thống kê (Dermirgue-Kunt 1989, Barr và Siems 1994) và các tổ chức ngân hàng trƣớc khi phá sản luôn có mức nợ xấu rất cao. Nhiều lập luận lại cho rằng trì trệ kinh tế là một trong những nguyên nhân chính của nợ xấu ngân hàng. Mỗi khoản nợ xấu tại một khu vực tài chính đƣợc xem là hình ảnh phản chiếu của một doanh nghiệp yếu kém và không lợi nhuận. Từ quan điểm này cho thấy việc giảm thiểu nợ xấu là điều kiện cần thiết để cải thiện trạng thái kinh tế.
Nếu nợ xấu vẫn tồn tại và tiếp tục gia tăng, các nguồn lực sẽ mắc kẹt trong những khu vực không lợi nhuận, kìm hãm sự phát triển kinh tế và làm giảm hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, trên thế giới có khá nhiều các nghiên cứu luận bàn về nguyên nhân gây ra nợ xấu ngân hàng. Đối với các nguyên nhân gây ra nợ xấu và sự ảnh hƣởng của nợ xấu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng, phải kể đến nghiên cứu của Keeton, William và Morris (1987). Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên các NHTM bị thua lỗ tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1979-1985 đồng thời sử dụng tỷ lệ nợ xấu làm thƣớc đo chính cho việc đo lƣờng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng này.
Mô hình kiểm 4 định đã chỉ ra rằng các điều kiện kinh tế riêng biệt địa phƣơng cùng với sự yếu kém trong hoạt động quản lý ngân hàng là các nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín. Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng các NHTM sẵn sàng cho vay những món mạo hiểm thƣờng có rủi ro vỡ nợ cao hơn so với các ngân hàng khác. Tiếp tục phát triển nghiên cứu trƣớc đó của mình, Keeton (1999) sử dụng dữ liệu các năm 1982 -1996 và mô hình véc tơ tự hồi quy, để phân tích tác động của tốc độ tăng trƣởng tín dụng, quy trình tín dụng… với tình trạng quỵt nợ của khách hàng ở Mỹ. Nghiên cứu cho chúng ta bằng chứng về mối quan hệ chặt chẽ thuận chiều giữa tốc độ tăng trƣởng tín dụng với khả năng suy yếu của các tài sản cho vay.
Cụ thể, Keeton (1999) cho thấy, tốc độ tăng trƣởng tín dụng nhanh chóng kết hợp với các tiêu chuẩn tín dụng đƣợc hạ thấp đã gây ra thiệt hại nặng nề khi cho vay ở một số bang trên nƣớc Mỹ. Trong nghiên cứu này, nợ xấu đƣợc định nghĩa là các khoản cho vay quá hạn quá 90 ngày hoặc các khoản vay không trả lãi. Salas, Vincente và Saurina (2002) đã sử dụng mô hình kiểm định với bảng dữ liệu giai đoạn 1985-1997 để điều tra các yếu tố gây ra các khoản nợ xấu của các ngân hàng Tây Ban Nha. Nghiên cứu cho thấy với tốc độ tăng trƣởng kinh tế GDP, sự mở rộng tín dụng nhanh chóng, sự mở rộng quy mô ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn và vị thế của ngân hàng trên thị trƣờng tài chính khác nhau sẽ dẫn đến sự khác biệt về tỷ lệ nợ xấu.
Ba năm sau đó, Jimenez, Gabriel và Saurina (2005) khi tiếp tục nghiên cứu về vấn đề nợ xấu tại các NHTM tại Tây Ban Nha giai đoạn 1984-2003, đã cung cấp bằng chứng sống động rằng tỷ lệ nợ xấu có liên quan mật thiết đến tốc độ tăng trƣởng kinh tế GDP, mặt bằng lãi suất cao và điều kiện tín dụng dễ dãi. Nghiên cứu này cho rằng với lãi suất cao, các ngân hàng thƣờng bị hút 5 vào “ tâm lý bầy đàn” khi lôi kéo nhau cho vay quá mức dẫn đến các khoản nợ xấu. Sử dụng mô hình dựa trên bảng dữ liệu áp dụng cho một số nƣớc ở Sahara – châu Phi, Fofack (2005) tìm thấy bằng chứng cho thấy khi kinh tế khủng hoảng, cung ứng tiền tệ quá mức, lãi suất cho vay thay đổi, và sự tăng trƣởng nóng của các khoản vay liên ngân hàng là yếu tố quyết định quan trọng dẫn đến sự phát sinh các khoản nợ xấu tại các nƣớc này. Tài liệu này cũng cung cấp bằng chứng về mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ nợ xấu.
Fofack (2005), cho thấy rằng lạm phát góp phần tạo nên các khoản nợ xấu ở các nƣớc Sahara – châu Phi. Theo nghiên cứu này, lạm phát gây ra sự xói mòn nhanh chóng tài sản các NHTM và gia tăng rủi ro tín dụng ở các nƣớc châu Phi. Tại Châu Á, Rajan, Rajiv và Dhal (2003) đã sử dụng bảng phân tích hồi quy để chỉ ra rằng những điều kiện kinh tế vĩ mô thuận lợi (tính bằng sự tăng trƣởng GDP) và các yếu tố tài chính, các điều kiện tín dụng, quy mô ngân hàng, chiến lƣợc tín dụng tác động đáng kể đến các khoản nợ xấu tại các NHTM ở Ấn Độ. Hu và cộng sự (2006) có phân tích mối quan hệ giữa nợ xấu và cơ cấu sở hữu của các NHTM tại Đài Loan với một bộ dữ liệu vào giai đoạn 1996-1999.
Nghiên cứu cho thấy hình thức sở hữu cũng là một nguyên nhân gây ra nợ xấu : cụ thể các ngân hàng có tỷ lệ sở hữu nhà nƣớc cao hơn sẽ có các khoản nợ xấu thấp hơn so với các ngân hàng khác. Hu và cộng sự (2006) cũng cho thấy rằng quy mô ngân hàng có mối quan hệ nghịch chiều với các khoản nợ xấu, (quy mô ngân hàng càng lớn thì tỷ lệ nợ xấu càng nhỏ) trong khi đa dạng hóa danh mục cho vay của ngân hàng lại không phải là yếu tố quyết định. Khemraj, Pasha (2009), đã sử dụng phƣơng pháp phân tích hồi quy và bảng dữ liệu trong 10 năm (1994- 2004) để xác định mối quan hệ giữa các biến số 6 kinh tế vĩ mô, các yếu tố nội bộ ngân hàng với tỷ lệ nợ xấu tại các NHTM Guyana. Bằng chứng cho thấy tỷ giá có ảnh hƣởng mạnh mẽ nhất tới tỷ lệ nợ xấu tại các NHTM Guyana, ta thấy rằng bất cứ khi nào có một sự suy giảm về khả năng cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế Guyana thì tỷ lệ nợ xấu sẽ cao hơn.
Khemraj, Pasha cũng tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ nghịch chiều giữa tốc độ tăng trƣởng kinh tế và các khoản nợ xấu. Kết quả cho rằng tác động của tăng trƣởng GDP tới các khoản nợ xấu là tức thời. Còn lạm phát lại không phải là một yếu tố quyết định quan trọng tới tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng ở Guyana. Ở trong nƣớc, cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nợ xấu ngân hàng.
Bên cạnh đó các vấn đề về nợ xấu cũng đƣợc đề cập tới trong một số tạp chí chuyên ngành. Bài viết của Huỳnh Thế Du (2004) trong chƣơng trình giảng dạy kinh tế Fulbright, TP Hồ Chí Minh đã đƣa ra một số mô hình xử lý nợ xấu trên thế giới: gồm mô hình xử lý nợ tập trung. VD: Hoa Kỳ và các nƣớc Đông Á nhƣ: Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc…và mô hình xử lý nợ phi tập trung. VD: Hungary, Ba Lan.Tác giả phân tích rất kỹ về mặt ƣu – nhƣợc điểm của từng loại mô hình.
Luận văn của NCS Nguyễn Thị Hoài Phƣơng (2012) và Nguyễn Thị Thúy Ngọc, 2015. “ Giải pháp nâng cao chất lƣợng cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Công thƣơng Việt Nam, chi nhánh Hồng Bàng”, luận văn thạc sỹ, trƣờng Học viện Tài chính cùng chung quan điểm khi chỉ ra rằng, nợ xấu trong Ngân hàng thƣơng mại là vấn đề cần phải đƣợc xử lý dứt điểm trƣớc khi các ngân hàng có thể hƣớng tới sự phát triển bền vững. Bởi vậy, việc đo lƣờng nợ xấu chính xác là vấn đề sống còn đối với các ngân hàng. Lê Hải Nhung, 2015.
“Chất lƣợng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu – Chi nhánh Hà Nội”, luận văn thạc sỹ, trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nộiđƣa ra quan điểm về chất 7 lƣợng tín dụng nói chung và chất lƣợng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng. Tác giả đã đánh giá chất lƣợng tín dụng thực tế tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu – Chi nhánh Hà Nội, chỉ ra những ƣu điểm, hạn chế, cũng nhƣ nguyên nhân của các hạn chế trong hoạt động tín dụng này. Qua đó tác giả đƣa ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lƣợng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng.Phan Thanh Bình (2016), luận văn thạc sĩ, “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Quân đội Chi Nhánh Thanh Xuân”, trƣờng Đại học Kinh tế, ĐHQGHN chỉ ra rằng, nợ xấu tồn tại do Ngân hàng chƣa có cách xử lý hiệu quả, chƣa trích lập đầy đủ dự phòng cũng nhƣ chƣa có các biện pháp thẩm định rủi ro hợp lý. Ngoài ra, tác giả còn có sự so sánh các điểm tƣơng đồng về xuất phát điểm và quá trình phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam và hệ thống NHTM Trung Quốc đồng thời cũng nghiên cứu thực trạng về nguyên nhân, quá trình phát sinh và xử lý nợ xấu ở Việt Nam và Trung Quốc trong các năm 2003 và 2004.
Nghiên cứu của tác giả đƣợc kết luận với những đánh giá và biện pháp trong việc xử lý nợ của cả hai quốc gia này.