mở đầu một cuộc khủng hoảng kinh tế. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng đối với ngân hàng. Tuy nhiên, tựu chung lại, có thể phân làm 03 nhóm sau: - Nhóm nguyên nhân khách quan - Nhóm nguyên nhân chủ quan từ phía người đi vay - Nhóm nguyên nhân thuộc về chủ quan của ngân hàng 10 Những nguyên nhân khách quan, bất khả kháng: Đây là những biến cố từ môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, công nghệ tác động đến khả năng trả nợ người đi vay. Những nhân tố như thiên tai, động đất, bão lụt, khủng hoảng kinh tế vĩ mô, hoặc thay đổi chính sách vĩ mô có tác động lớn đến khả năng trả nợ của khách hàng vay, vượt quá tầm kiểm soát của cả ngân hàng lẫn khách hàng.
Những nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay: Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong quản lý, chủ định lừa đảo hoặc kinh doanh mạo hiểm, thiếu thiện chí trả nợ… là những nguyên nhân gây rủi ro tín dụng. Dự báo và nhận diện những rủi ro tiềm ẩn thuộc về chủ quan người vay là một trong những nội dung cốt lõi của phân tích tín dụng mà các ngân hàng thương mại theo đuổi. Các khuôn khổ về phân tích tín dụng được ngân hàng sử dụng khi thẩm định, đánh giá một khoản vay nhằm phát hiện và đánh giá khả năng gây ra tổn thất do những nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay. Tuy nhiên, các ngân hàng cũng không thể luôn luôn đánh giá đúng các rủi ro này.
Những nguyên nhân thuộc về chủ quan của ngân hàng: Những nguyên nhân thường thấy là thiếu thông tin về khách hàng vay, năng lực cán bộ chưa cao, bỏ qua hoặc xem nhẹ các nguyên tắc hạn chế rủi ro, thiếu trách nhiệm hoặc cố ý làm sai, không tuân thủ quy trình nghiệp vụ… b2. Quản trị rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng luôn là vấn đề nổi cộm của các ngân hàng. Mỗi ngân hàng đều phải rút ra các bài học cho mình từ những kinh nghiệm quá khứ. Để quản trị rủi ro tín dụng, các ngân hàng thường sử dụng một số công cụ sau: 11 - Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng bằng văn bản là yếu tố căn bản, là nền tảng để quản trị tín dụng hiệu quả.
Chính sách tín dụng đặt ra mục tiêu, tham số định hướng cho cán bộ ngân hàng, những người làm công tác cho vay và quản trị danh mục đầu tư. Chính sách được xây dựng khoa học, cẩn thận, thông suốt từ trên xuống dưới sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng duy trì tiêu chuẩn tín dụng của mình, tránh rủi ro quá mức và đánh giá đúng về cơ hội kinh doanh. Các tổ chức giám sát hoạt động ngân hàng trên thế giới đều coi một chính sách tín dụng được xây dựng đúng đắn là điều kiện thiết yếu để quản trị tốt rủi ro tín dụng. - Giới hạn cấp tín dụng: Để hạn chế rủi ro, mỗi ngân hàng nên quy định hạn mức cấp tín dụng tối đa cho từng cấp quản trị (mức phán quyết).
Mức phán quyết có thể được quy định cho các chi nhánh ngân hàng, các phòng giao dịch, tùy theo quy mô hoạt động, năng lực làm việc của chi nhánh; theo loại sản phẩm tín dụng, tính chất có hay không có tài sản bảo đảm của khoản vay. Ngoài ra, ngân hàng cũng cần xác định một mức giới hạn tín dụng đối với từng khách hàng riêng biệt. Nó được hiểu là mức tín dụng an toàn tối đa trong đó doanh nghiệp quản trị hiệu quả được hoạt động của mình và ở mức này, rủi ro ngân hàng có thể chịu đối với doanh nghiệp là thấp nhất. Giới hạn tín dụng được xác định trên cơ sở chính sách tín dụng từng thời kỳ, xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp, ngành nghề và quy mô hoạt động của họ, khả năng cung ứng và quản trị vốn của ngân hàng.
- Định giá khoản vay: Định giá khoản vay là một công cụ vô cùng quan trọng trong tiến trình quản trị rủi ro tín dụng khi quyết định cho vay đã được đưa ra. Thông thường, thu nhập mà một khoản vay mang lại cho ngân hàng gồm có: tiền lãi vay và phí. 12 Về cơ cấu, lãi suất cho một khoản vay phải được xác định ở mức bảo đảm bù đắp được chi phí vốn đầu vào, chi phí quản lý, phần lợi nhuận mong muốn và phần bù rủi ro của khoản vay. Tùy thuộc vào chính sách của mình, ngân hàng sẽ xác định mức lãi suất với phần bù rủi ro hợp lý.
- Xếp hạng tín dụng: Các ngân hàng cần định kỳ thực hiện xếp hạng lại tín dụng cho khách hàng (mức độ rủi ro của khách hàng), đánh giá lại món vay và tài sản bảo đảm để từ đó có mức phân bổ dự phòng, điều chỉnh lại giới hạn cấp tín dụng cho khách hàng cho phù hợp hoặc thực hiện những biện pháp cần thiết nhằm thu hồi nợ trước hạn nếu phát hiện khoản vay, tài sản bảo đảm có dấu hiệu bất thường ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ vay. - Tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm là nguồn trả nợ thứ cấp cho khoản vay nếu dự án kinh doanh của khách hàng gặp rủi ro, dòng tiền của khách hàng không đúng như dự kiến. Tuy nhiên, khoản vay sẽ phải được thanh toán bằng tiền tạo ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh chứ không phải bằng phát mại tài sản bảo đảm nên tài sản bảo đảm mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để cho vay. - Đa dạng hóa danh mục đầu tư: Một công cụ khác luôn được nhắc đến của quản trị tín dụng ở tất cả các ngân hầng trên thế giới là quản trị danh mục đầu tư.
Quản trị danh mục đầu tư làm cân đối và kiềm chế rủi ro danh mục bằng cách nhận dạng, dự báo và kiểm soát mức độ rủi ro với từng thị trường, ngành hàng, khách hàng, loại sản phẩm tín dụng và điều kiện hoạt động khác nhau. Nhiều chuyên gia ngân hàng cho rằng đa dạng hóa là giải pháp hữu hiệu trong phòng ngừa rủi ro tín dụng. Hạn chế rủi ro tín dụng là lý do cần XHTD khách hàng vay vốn tại NHTM: Có thể nói hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là một trong những hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro hơn hết. Rủi ro được xem như một yếu tố không thể tách rời với quá trình hoạt động của ngân hàng thương mại.
Rủi ro trong cho vay còn được nhân lên gấp đôi, bởi ngân hàng không những phải hứng chịu rủi ro do những nguyên nhân chủ quan của mình mà còn gánh chịu những rủi ro do khách hàng gây ra. Hơn nữa, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có thể gây ra tai họa to lơn cho nền kinh tế hơn bất cứ rủi ro của các loại hình doanh nghiệp khác. Tính chất lan truyền của nó có thể làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống kinh tế. Hoạt động ngân hàng thương mại gồm nhiều loại nghiệp vụ, nhưng tựu chung lại, đây là loại hình kinh doanh tiền tệ - tín dụng của một trung gian tài chính dựa trên cơ sở thu hút tiền của khách hàng (dưới hình thức nhận tiền gửi huy động bằng trái phiếu, kỳ phiếu, đi vay…) với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán.
Ngân hàng thương mại tiến hành các hoạt động nghiệp vụ của mình thông qua việc sử dụng không chỉ bằng vốn tự có mà chủ yếu bằng vốn huy động của khách hàng. Nếu ngân hàng thương mại không thu hồi được số nợ mà họ đã cho vay thì ngân hàng thương mại không những bị mất vốn tự có của bản thân mà còn có nguy cơ không thể hoàn trả được số tiền đã huy động của khách hàng. Vì vậy, tính chất trung gian tài chính đặt ra yêu cầu đối với ngân hàng thương mại là phải thường xuyên thu hồi được số vốn đã cho vay để duy trì khả năng hoàn trả số tiền huy động của khách hàng và bảo toàn vốn tự có của bản thân. Hoạt động kinh doanh tiền tệ ngày càng khó khăn, rủi ro của nó ngày càng lớn, đòi hỏi phải có những biện pháp phòng ngừa, hạn chế các rủi ro đó để bảo đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng thương mại.
Trong xu 14 hướng đó, xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng là công việc ngày càng được chú ý rộng rãi trong hoạt động tín dụng ngân hàng, giúp ngân hàng có thêm căn cứ để xác định đối tượng cho vay, lãi suất cho vay cũng như vấn đề tài sản bảo đảm và các vấn đề khác. Trên cơ sở phân tích, đánh giá các doanh nghiệp vay vốn, chúng ta có thể hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Cơ sở lý luận về xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về xếp hạng tín dụng nội bộ Hiện nay có nhiều thuật ngữ được sử dụng để chỉ việc thực hiện đánh giá, xếp hạng khách hang vay vốn tại NHTM như : xếp hạng người vay( borrower rating ), xếp hạng rủi ro người vay ( borrower risk rating), xếp hạng rủi ro tín dụng (Credit risk rating), chấm điểm tín dụng (Credit scoring) …Tuy nhiên từ gốc tiếng anh “credit rating” khi dịch sang tiếng việt có nhiều nghĩa: xếp hạng rủi ro, xếp hạn tín nhiệm, xếp hạng doanh nghiệp, đôi khi gây một số nhầm lẫn.
Xếp hạng tín nhiệm và xếp hạng tín dụng đều có nghĩa tiếng anh như nhau nhưng chúng không đồng nhất. Xếp hạng tín nhiệm là một phạm trù lớn hơn xếp hạng tín dụng, mặc dù chúng đều có ý nghĩa là cách đánh giá khả năng trả nợ trong tương lai. Theo Moody’s “xếp hạng tín nhiệm là việc đánh giá khả năng chi trả đúng hạn của khách hàng đối với một nghĩa vụ nợ hiện tại và tương lai”, nó đựoc thực hiện bởi một công ty xếp hạng tín nhiệm độc lập. Trong khi đó “xếp hạng tín dụng là đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng có thể thanh toán gốc và lãi khoản vay đúng hạn”--- ( trích tài liệu Citibank)- công việc này thường thực hiện bởi chính các ngân hàng (hoặc các trung thông tin tín dụng.) và thường không được đăng tải 15 công khai do đó, nếu xét về kết quả xếp hạng khó có thể ngang tầm với kết quả được thực hiện bởi các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập.