Chương 1: Giới thiệu Chương này nêu lên những nét chính về công trình nghiên cứu, bao gồm: Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và đóng góp của đề tài. Ngoài ra, chương này cũng nêu rõ về cấu trúc luận văn và nội dung tóm lược của các chương trong đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận về hệ thống Xếp hạng tín dụng nội bộ (XHTD) tại ngân hàng thương mại Tổng quát hoá một số khái niệm, định nghĩa các kiến thức cơ bản về XHTD, giới thiệu một số mô hình chấm điểm tín dụng của các tổ chức chấm điểm uy tín hiện đang áp dụng trên thế giới. Chương 3: Hệ thống xếp hạng tín dụng của Agribank và ứng dụng tại chi nhánh Bình Thuận: Giới thiệu tổng quan về quy trình tín dụng và hệ thống XHTD của Agribank áp dụng cho khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân.
Đúc kết và tìm hiểu các nguyên tắc chính của hệ thống chấm điểm và từ đó nhận định, đúc rút được các ưu thế của hệ thống tại thị trường Việt Nam. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng tại Agribank chi nhánh Bình Thuận: Các giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng tại Agribank đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong hoạt động cấp tín dụng tại ngân hàng. Đồng thời đề tài sẽ đề xuất các với 5 các đơn vị có chức năng có liên quan nhằm tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh việc ứng dụng XHTD vào công tác cho vay. Ngoài các phần nội dung nêu trên, luận văn còn có các mục khác như tài liệu tham khảo và phụ lục.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Tổng quan về xếp hạng tín dụng: 2. Khái niệm và đối tượng của xếp hạng tín dụng: 2. Khái niệm: Theo Standards & Poor, XHTD là những ý kiến đánh giá hiện tại về rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng, khả năng và thiện ý của chủ thể đi vay trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn.
Theo Moody's, XHTD là những ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vay dựa trên những phân tích tín dụng cơ bản và biểu hiện thông qua hệ thống ký hiệu Aaa-C. Như vậy, hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng là một quy trình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của một khách hàng đối với một ngân hàng như việc trả lãi và trả gốc nợ vay khi đến hạn hoặc các điều kiện tín dụng khác nhằm đánh giá, xác định rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng đối tượng khách hàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng. Việc xếp hạng tín dụng khách hàng là một quá trình, nó bắt đầu từ khi xác định mục đích sử dụng đến việc thu thập, xử lí thông tin trong quá trình quản lí và đánh giá chất lượng thông tin thông qua quá trình sử dụng.
Từ những thông tin thu thập kết hợp với phương pháp phân tích và các chỉ tiêu phân tích phù hợp với mục đích đánh giá của ngân hàng làm rõ thực chất hoạt động sản xuất kinh doanh cả về nguồn lực, tiềm năng, lợi thế kinh doanh cũng như rủi ro tiềm ẩn về khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn để ngân hàng có thể kịp thời đưa ra quyết sách phù hợp nhằm ngăn ngừa, kiểm soát rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh. Ở đây, chúng ta có sự phân biệt khác nhau giữa XHTD và XHTD nội bộ. Sự khác nhau đó là XHTD thường được các tổ chức xếp hạng chuyên nghiệp xếp hạng rồi cung cấp sản phẩm xếp hạng đấy cho thị trường để mọi người sử dụng. Còn XHTD nội bộ là 7 do các NHTM, các tổ chức tín dụng tổ chức xếp hạng khách hàng nhằm phục vụ riêng cho chính công việc kinh doanh của mình.
Đối tượng xếp hạng tín dụng: Xếp hạng tín dụng được hình thành và phát triển dựa trên mối quan hệ tín dụng. Nếu quan hệ tín dụng không phát sinh thì nhu cầu xếp hạng tín dụng cũng không cần thiết. Hơn nữa, xếp hạng tín dụng là xếp hạng uy tín và khả năng trả nợ của người đi vay, do đó, về mặt nguyên tắc người ta chỉ xếp hạng người đi vay chứ không xếp hạng người cho vay, và bất kỳ người nào có nhu cầu đi vay đều có thể sử dụng dịch vụ xếp hạng tín dụng. Trong thực tế, những chủ thể có nhu cầu đi vay sau là đối tượng xếp hạng tín dụng chủ yếu: Thứ nhất là các quốc gia.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới, từ giàu đến nghèo, từ cái nước đang phát triển đến nước phát triển đều có nhu cầu vay nợ. Do đó, việc đánh giá khoản nợ của một quốc gia an toàn hay không trở nên vô cùng quan trọng đối với các nhà đầu tư cũng như chính phủ của các quốc gia đi vay. Đây là lý do cho dịch vụ xếp hạng tín dụng quốc gia ra đời. Các quốc gia muốn được xếp hạng tín dụng phải kí thoả thuận về cung cấp thông tin cho tổ chức xếp hạng, đồng thời hàng năm phải trả một khoản phí dựa trên dư nợ cần đánh giá, trên cơ sở đó, các thông tin về xếp hạng tín dụng được công bố miễn phí.
Việc xếp hạng tín dụng quốc gia nhằm đưa ra mức độ rủi ro của môi trường đầu tư và thường được sử dụng bởi các nhà đầu tư có nhu cầu tìm kiếm môi trường đầu tư ở một quốc gia khác. Việc đánh giá bao gồm các loài rủi ro như rủi ro chính trị xã hội, rủi ro kinh tế, rủi ro môi trường, rủi ro pháp lí. Bên cạnh việc xếp hạng quốc gia, thì các thành phố, địa phương cũng có thể được xếp hạng. Thứ hai là các doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực kinh doanh đều là đối tượng được xếp hạng tín dụng. Để được các tổ chức chuyên nghiệp xếp hạng tín dụng, các doanh nghiệp phải cung cấp thông tin chính thống và phải trả phí dịch vụ, do đó, thường những công ty lớn có nhu cầu phát hành chứng khoán nợ thường xuyên hoặc theo đó với số lượng lớn thì mới có nhu cầu xếp hạng tín dụng. Đối với khách hàng của ngân hàng thường xếp hạng tín dụng theo hệ thống xếp hạng nội bộ của từng ngân 8 hàng. Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến xếp hạng tín dụng doanh nghiệp bao gồm loại hình doanh nghiệp, ngành kinh tế, các chỉ tiêu tài chính, các chỉ tiêu phi tài chính, lịch sử tín dụng của khách hàng tại các tổ chức tín dụng, tính khả thi của phương án dự án vay vốn.
Thứ ba là các ngân hàng. Mức độ kinh nghiệm của các ngân hàng là cực kỳ quan trọng trong công việc huy động vốn, thực hiện các nghiệp vụ tín dụng như mở L/C hay bảo lãnh cho khách hàng. Một ngân hàng được xếp hạng tín dụng cao sẽ dễ dàng thu hút các nguồn vốn không chỉ trong nước và cả các khoản tín dụng quốc tế. Khi có mức độ tín nhiệm cao, thì các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế như mở L/C hay bảo lãnh cho khách hàng sẽ thuận lợi hơn.
Một ngân hàng có mức xếp hạng tín dụng cao khi phát hành L/C sẽ không cần kí quỹ xác nhận L/C. Ngược lại, nếu mức tín nhiệm thấp có thể phải ký quỹ 100 % giá trị L/C thì mới được xác nhận. Vì vậy, thông tin về việc nâng hạng hay giáng hạng đối với một ngân hàng nào đó thường trở thành thông tin quan trọng trên thị trường tài chính. Thứ tư là xếp hạng cá nhân vay vốn.
Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến xếp hạng tín dụng cá nhân bao gồm các thông tin về nhân thân, khả năng chi trả, lịch sử tín dụng của khách hàng tại các tổ chức tín dụng, nhu cầu cấp tín dụng……Cá nhân vay vốn được xếp hạng khi tiến hành vay vốn tại ngân hàng, mua hàng trả góp tại các công ty tài chính nhằm phục vụ nhu cầu đầu tư, kinh doanh, tiêu dùng phục vụ cuộc sống với số vốn vay nhỏ, thời gian vay vốn ngắn. Xếp hạng người đi vay chủ yếu dự báo nguy cơ vỡ nợ theo ba cấp độ cơ bản là nguy hiểm, cảnh báo và an toàn dựa trên xác suất không trả được nợ (Probability of Default). Cơ sở của xác suất này là dữ liệu về các khoản nợ quá khứ trong vòng 5 năm trước đó của KH, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được. Dữ liệu phân theo ba nhóm: Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của KH; nhóm dữ liệu định tính phi tài chính thì tuỳ vào ngân hàng, có thể liên quan đến trình độ Quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu và khả năng tăng trưởng của 9 ngành; và nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các dấu hiệu không trả được nợ, tình hình số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi.
Xếp hạng khoản vay dựa trên cơ sở xếp hạng người vay và các yếu tố bao gồm tài sản đảm bảo, thời hạn cho vay, tổng mức dư nợ tại các tổ chức tín dụng, năng lực tài chính. Rủi ro của khoản vay được đo lường bằng xác suất rủi ro dự kiến. Rủi ro tín dụng và vai trò của XHTD trong giảm thiểu rủi ro tín dụng: 2. Rủi ro tín dụng: Lịch sử kinh tế thế giới chứng minh rằng không thể có một nền kinh tế phát triển ổn định và phát triển nếu không có một hệ thống ngân hàng lành mạnh và hoạt động hiệu quả.
Lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng vẫn luôn được xem là tâm điểm của nền kinh tế bởi nó điều tiết và cung ứng vốn cho nền kinh tế. Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào của bất kì sự nghiệp nào trong nền kinh tế cũng gắn chặt với hoạt động ngân hàng, tiền tệ. Các nhà kinh tế và nhà quản trị nhìn nhận một số rủi ro cơ bản trong kinh doanh ngân hàng gồm rủi ro tín dụng, rủi ro tỉ giá hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp.