CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ MÔ HÌNH Z-SCORE 1. Tổng quan về xếp hạng tín dụng 1. Khái niệm xếp hạng tín dụng Credit ratings được dịch với nhiều nghĩa khác nhau như xếp hạng tín nhiệm, xếp hạng tín dụng, định mức tín dụng, định mức tín nhiệm, đánh giá tín nhiệm.trong luận văn thống nhất sử dụng thuật ngữ là xếp hạng tín dụng vì khái niệm này được xem xét khi đứng dưới góc độ của ngân hàng do đó mục đích của việc xếp hạng tín nhiệm cũng là những mục đích của xếp hạng tín dụng. Cho đến nay khó có thể đưa ra một khái niệm rõ ràng về xếp hạng tín dụng.
Tùy theo góc độ nghiên cứu mà có nhiều định nghĩa khác nhau về “xếp hạng tín dụng”: - Theo công ty Moody’s thì xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vay dựa trên những phân tích tín dụng cơ bản và biểu hiện thông qua hệ thống ký hiệu Aaa tới C (Moody’s, 2011). - Theo tổ chức xếp hạng Standards & Poor thì xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng, khả năng và sự sẵn sàng thanh toán các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn của một chủ thể phát hành như một doanh nghiệp, một Chính phủ hoặc một Ủy ban nhân dân. Xếp hạng tín dụng cũng đề cập đến chất lượng tín dụng của một khoản nợ riêng lẽ, như một trái phiếu doanh nghiệp hoặc một trái phiếu của chính quyền địa phương, và xác suất tương đối mà khoản phát hành đó có thể vở nợ (Standards & Poor, 2011). Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát về xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng, khả năng và sự sẵn sàng thanh toán các nghĩa vụ tài chính (bao gồm gốc và lãi) một cách đầy đủ và đúng hạn của đối tượng xếp hạng trong 16 suốt thời gian tồn tại của đối tượng xếp hạng đó, được thể hiện thông qua hệ thống phân loại kí hiệu được xác định trước.
Sự ra đời và phát triển của xếp hạng tín dụng Xếp hạng tín dụng (credit ratings) là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Anh (credit: là tín dụng, ratings: là sự xếp hạng) do John Moody đưa ra vào năm 1909 khi đánh giá tín dụng các doanh nghiệp ngành đường sắt. Cùng năm đó, cuốn “cẩm nang chứng khoán đường sắt” được phát hành dựa trên việc nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín dụng lần đầu tiên cho 1.500 loại trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu được xếp lần lượt là Aaa đến C (hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế) (Mulligan, 2009). Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp chỉ phát triển nhanh ở Mỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 khi hàng loạt các công ty vay nợ bị phá sản, vỡ nợ. Thời kỳ này Chính phủ Hoa Kỳ đã có nhiều quy định về việc cấm các định chế tài chính bỏ vốn đầu tư mua trái phiếu có độ tin cậy thấp dưới mức an toàn trong bảng XHTD.
Những quy định này làm cho uy tín của các công ty XHTD ngày một lên cao. Trong suốt hơn 50 năm, việc XHTD chỉ được phổ biến ở Mỹ, chỉ từ những năm 1970 đến nay, dịch vụ XHTD mới mở rộng và phát triển khá mạnh ở nhiều nước. Cụ thể là sự ra đời của công ty Fitch Investor Service (1924), Standard and Poor (1941), công ty xếp hạng trái phiếu Canada – Canadian Bond Rating service (1972), tổ chức xếp hạng trái phiếu Nhật Bản – Japanese Bond Rating Instiute (1975), công ty Duff and Phelps (1982). Sự mở rộng tăng dần, trong những năm 1970 các cơ quan xếp hạng đứng đầu chỉ có một số nhân viên phân tích thì đến năm 1980 theo báo cáo của Partnoy S&P có 30 chuyên gia trong nhóm công nghiệp và đến năm 1986 con số này đã lên tới 40.
Năm 1995, S&P có 800 nhà phân tích và tổng cộng là 1200 nhân viên; Moody’s cũng mở rộng với tốc độ tương tự tới 560 nhà phân tích và tổng cộng 1700 nhân viên. Sự tăng trưởng về số lượng nhân sự chứng tỏ sự mở rộng của các công ty xếp hạng tín dụng. 17 Cùng với sự phát triển của thị trường trái phiếu các tổ chức xếp hạng tín dụng của các quốc gia trên thế giới cũng lần lượt ra đời: Philippnes (1982), kế đó là Malaysia (1991), Việt Nam (9/1992) với tên Phòng thông tin phòng ngừa rủi ro (TPR) thuộc Vụ tín dụng – Ngân hàng nhà nước; Thái Lan (1993), Trung Quốc (1994), Indonesia (1995). Ở mỗi quốc gia việc xếp hạng tín dụng đang dần trở nên minh bạch và là yếu tố quan trọng khi xem xét, đánh giá chủ thể đi vay, chủ thể phát hành trái phiếu,.Sự phát triển của các tổ chức xếp hạng tín dụng trên thế giới chứng tỏ tầm quan trọng của việc xếp hạng tín dụng trong hoạt động tài chính.
Đối tượng xếp hạng tín dụng Có nhiều cách để phân loại xếp hạng tín dụng. Tùy thuộc vào các căn cứ khác nhau, theo (Bhatia and Batra 1996, p.287) có thể phân loại như sau: 1. Xếp hạng tín dụng cá nhân Là hình thức xếp hạng được áp dụng đối với khách hàng cá nhân tham gia vào hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Việc xếp hạng tín dụng cá nhân được thực hiện dựa trên lịch sử vay – trả nợ, số lượng và loại tài sản đảm bảo mà cá nhân đó đang sở hữu, những khoản thanh toán chậm hoặc nợ quá hạn.Tất cả thông tin đó đều được thu thập và tổng hợp trong các báo cáo xếp hạng tín dụng về cá nhân đó.
Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Là hình thức tập trung vào đối tượng xếp hạng là các doanh nghiệp. Việc xếp hạng tín dụng doanh nghiệp được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng về cơ bản vẫn dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp để đánh giá. Xếp hạng tín dụng ngành Là hình thức xếp hạng được áp dụng cho các ngành kinh tế. Việc xếp hạng tín dụng ngành dựa trên những đóng góp của ngành đó đối với nền kinh tế, đặc biệt là xác định ngành then chốt trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, và chỉ số tiến bộ công nghệ của ngành.
Xếp hạng tín dụng quốc gia Loại hình xếp hạng tín dụng này đánh giá mức độ tin cậy của một quốc gia, để từ đó có thể so sánh môi trường đầu tư giữa các quốc gia. Quốc gia nào càng được xếp hạng tín dụng cao thì càng nhận được sự tín dụng của các nhà đầu tư nước ngoài nên sẽ thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư. Việc xếp hạng tín dụng quốc gia dựa trên các chỉ số phát triển chung như: chỉ số phát triển các ngành, chỉ số an toàn vốn đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia, mức độ bình ổn chính trị. Xếp hạng tín dụng các công cụ đầu tư Xếp hạng tín dụng các công cụ đầu tư như: trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ và các loại trái phiếu, kì phiếu ngân hàng.
Ở một số nước và một số tổ chức xếp hạng tín dụng hiện nay còn xếp hạng tín dụng cả cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường.Việc xếp hạng tín dụng với các công cụ đầu tư được thực hiện dựa trên một số chỉ tiêu như: khả năng thanh toán, kì hạn, lãi suất, mệnh giá, các rủi ro có thể gặp phải. Ở nước ta hiện nay mới chỉ tập trung xếp hạng cá nhân và các doanh nghiệp tham gia hoạt động tín dụng ở các ngân hàng thương mại, xếp hạng doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán. Xếp hạng quốc gia thì chúng ta chưa có khả năng thực hiện mà chỉ dành cho những tổ chức xếp hạng lớn như Moody’s, Stand and Poor hay Fitch,. Xếp hạng các công cụ đầu tư còn chưa được chú ý.
Vai trò của xếp hạng tín dụng Theo (S&P 2011) xếp hạng tín dụng có vai trò đối với các đối tượng sau: 1. Đối với ngân hàng thương mại * Hạn chế rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chính vì vậy khi khách hàng vay gặp phải rủi ro dẫn đến không trả được nợ cho ngân hàng thì sẽ ảnh hưởng ngay đến nguồn vốn hoạt động của ngân hàng đồng 19 thời lan tỏa sang các hoạt động khác mà thiệt hại lớn nhất là dẫn tới nguy cơ phá sản của ngân hàng. Để hạn chế rủi ro tín dụng bên cạnh các biện pháp truyền thống, thì xếp hạng tín dụng khách hàng là một công cụ hỗ trợ hữu hiệu trong việc ra quyết định cho vay. * Lựa chọn khách hàng Lựa chọn khách hàng để cấp tín dụng luôn là một quyết định quan trọng trong hoạt động tín dụng của ngân hàn.
Dựa vào cơ sở nào để ngân hàng quyết định cho vay hay từ chối cho vay? Khi xem xét quyết định cho vay ngân hàng thường căn cứ vào tài sản đảm bảo, phương án sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, khả năng trả nợ,.Tuy nhiên hiện nay bên cạnh các điều kiện như trên thì kết quả xếp hạng tín dụng cũng là một nhân tố quan trọng hỗ trợ cho việc lựa chọn được những khách hàng tốt, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. * Hỗ trợ hoạt động phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro Theo điều 7 của quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 về phân loại nơ, trích lập và sử dụng dự phòng thì hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là căn cứ để tổ chức tín dụng phân loại nợ và xây dựng chính sách dự phòng rủi ro. Theo quy định này thì hiện các TCTD có thể sử dụng hai phương pháp phân loại nợ: phương pháp định lượng và phương pháp định tính. Trong đó phương pháp định lượng là phân loại nợ theo tuổi nợ, còn phương pháp định tính lại căn cứ dựa trên hệ thống XHTD nội bộ và chính sách dự phòng rủi ro của TCTD đó được NHNN chấp thuận.
Kết quả XHTD là điểm tổng hợp và tương ứng với các mức trên thang điểm là nhóm nợ tương ứng. Hệ thống xếp hạng hiệu quả sẽ hổ trợ cho việc sử dụng phương pháp định tính để xác định mức độ rủi ro của các khoản tín dụng, từ đó giúp phân loại nợ chính xác hơn, ước tính được tổn thất sẽ giúp trích lập dự phòng theo tỷ lệ phù hợp, gần với thông lệ quốc tế.