phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết. 13 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ XÂY DỰNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. QUAN NIỆM VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH 1. Khái niệm văn hóa Để làm rõ khái niệm văn hóa gia đình, trước hết cần phải làm rõ hai khái niệm: “văn hóa” và “gia đình”.
“Văn hóa” có ngoại diên rộng lớn, là sự sáng tạo của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại. Sự sáng tạo của con người và loài người là không ngừng và vô tận. Do đó khái niệm “văn hóa” đã và sẽ không ngừng nhận được những sắc thái ý nghĩa mới. Văn hóa là một hiện tượng xã hội xuyên thấm trong mọi mặt đời sống, hoạt động và quan hệ con người.
Sự năng động và linh hoạt của đời sống, hoạt động và quan hệ con người tất yếu kéo theo sự năng động và linh hoạt của khái niệm văn hóa. Cho đến hiện nay, đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa đã được đề xuất và lưu hành trên thế giới và ở Việt Nam. Mặc dù vậy, theo nhìn nhận của các tác giả cuốn Xã hội học văn hóa thì “người ta vẫn tiếp tục định nghĩa về văn hóa do đó số lượng các định nghĩa này vẫn tiếp tục tăng lên” [23, tr. Văn hóa tự nó vốn là một phức hợp, một tổng thể nhiều mặt, nhiều chiều cạnh, trong đó mặt nào, chiều cạnh nào được tiếp cận cũng có thể làm nảy sinh một quan niệm, một định nghĩa có vẻ hoàn chỉnh.
Điều này làm cho “văn hóa” trở thành một khái niệm đa nghĩa. Vấn đề là làm sao hiểu được khái niệm văn hóa một cách đầy đủ và sát hợp với hướng tiếp cận của chủ nghĩa xã hội khoa học, cuối cùng để vận dụng tốt hơn vào nhiệm vụ xây dựng văn hóa gia đình ở nước ta hiện nay nhằm phát huy vai trò và nâng cao 14 hiệu quả tác động của văn hóa gia đình đối với sự hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới. Và để đi đến một quan niệm, một cách hiểu khái niệm văn hóa theo hướng đó, chúng tôi thấy cần và có thể dựa vào một số định nghĩa và cách lý giải về khái niệm văn hóa trong các trường hợp sau: Trong các tài liệu khoa học ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, thuật ngữ “văn hóa” được sử dụng phổ biến với hai nghĩa: Nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần gắn với cả hai hình thái hoạt động sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần của con người và xã hội. Văn hóa hiểu theo nghĩa này thường được sử dụng trong phân tích triết học về văn hóa.
Nghĩa hẹp, văn hóa chỉ bao gồm những giá trị tinh thần, gắn với hình thái hoạt động tinh thần của con người và xã hội. Văn hóa hiểu theo nghĩa này thường được sử dụng trong các văn kiện của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình nghiên cứu, bàn thảo sôi nổi về vấn đề xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, các nhà khoa học mácxít ở Liên Xô và Đông Âu trước đây đã đề xuất nhiều định nghĩa, quan niệm về văn hóa. Trong số đó, phù hợp hơn cả với hướng nghiên cứu của đề tài luận văn này là quan niệm cho rằng, văn hóa là “một hệ thống nhằm bảo đảm sự đào tạo ra những con người về các mặt tri thức, tình cảm và đạo đức, thành những thành viên tích cực của xã hội” [97, tr.
Trong định nghĩa vừa dẫn, văn hóa được nhận thức như một hệ thống hoạt động “trồng trọt tinh thần”, tức là sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người. Ở phương Tây, từ “văn hóa” có nguồn gốc từ tiếng latinh Cultus mà nghĩa gốc là trồng trọt được dùng theo hai nghĩa: Cultus agri là “trồng trọt ngoài đồng”, tức là hoạt động cải biến tự nhiên và Cultus animi là “trồng trọt tinh thần”, tức là sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người [56, tr. 15 Trong câu nói của Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” chính là theo cái nghĩa gốc ấy. Trong văn hóa học tư sản cũng có nhiều định nghĩa văn hóa.
Trong đó định nghĩa của E. Taylor trong tác phẩm “Văn hóa nguyên thủy”, xuất bản ở Luân Đôn năm 1871 được xem là định nghĩa đầu tiên có tính kinh điển về văn hóa. Định nghĩa này nêu: “Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng và tập quán khác mà con người đạt được với tư cách là thành viên của xã hội” [9, tr. Ở Việt Nam, vấn đề văn hóa cũng đã được nghiên cứu từ lâu và đã có nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về văn hóa đã được đề xuất.
Dưới đây, chúng tôi chỉ nêu một số định nghĩa, quan niệm mà chúng tôi cho là tiêu biểu và phù hợp với hướng tiếp cận của đề tài luận văn này. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, lời định nghĩa về văn hóa đầy đủ nhất đã được ghi trong trang cuối của bản thảo Nhật ký trong tù: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi của sự sinh tồn” [50, tr.
Hồ Chí Minh không chỉ đề xuất khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra như vừa dẫn, mà còn cho rằng văn hóa là những giá trị tinh thần – văn hóa tinh thần, thuộc về kiến trúc thượng tầng. Văn hóa đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội, tạo thành bốn vấn đề cơ bản của xã hội: “trong công cuộc kiến thiết 16 nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhưng văn hóa là một kiến trúc thượng tầng” [Báo Cứu quốc, số ra ngày 8-10-1945]. Hồ Chí Minh cũng đã nói đến văn hóa – văn nghệ, đến các sáng tác văn học, coi văn hóa – nghệ thuật là một mặt trận.
Ngoài ra, Người còn nói đến văn hóa theo nghĩa hẹp nhất của từ này, tức văn hóa đơn giản chỉ là trình độ học vấn của con người. Các tác giả Nguyễn Duy Quý và Đỗ Huy trong cuốn Xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta hôm nay, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992 đã đề xuất một định nghĩa, rằng: “Văn hóa là biểu trưng của trình độ phát triển của các quan hệ nhân tính thông qua cách thức hoạt động sống và sáng tạo theo chuẩn chân – thiện – mỹ” [64, tr. Giáo sư Vũ Khiêu, trong cuốn Góp phần nghiên cứu cách mạng tư tưởng văn hóa đã nêu một quan niệm, rằng: “Văn hóa thể hiện trình độ được vun trồng của con người, của xã hội… văn hóa là trạng thái con người ngày càng tách rời khỏi giới động vật để khẳng định những đặc tính của con người” [34, tr.8] Qua hai định nghĩa vừa dẫn, văn hóa được hiểu là hoạt động sáng tạo của con người mà bản thân hoạt động đó cũng như những sản phẩm của nó thể hiện và thúc đẩy sự phát triển những năng lực bản chất người của con người, hoàn thiện xã hội theo hướng chân - thiện - mỹ.
Con người làm ra văn hóa, đồng thời văn hóa nuôi dưỡng, vun trồng con người, nâng cao giá trị con người, làm cho con người trở thành người hơn. Như vậy, có thể thấy, văn hóa là vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu ở cả trên thế giới và Việt Nam. Về mặt lý luận, cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục suy nghĩ và phát biểu về khái niệm văn hóa. Tuy nhiên, căn cứ vào một số khái niệm văn hóa đã được đề xuất và lưu hành rộng rãi trong nước và trên thế giới, có thể rút ra những nội dung căn cốt nhất của khái niệm văn hóa được hầu hết các tác giả đề cập đến như sau: 17 Thứ nhất, văn hóa là một hiện tượng xã hội, là cái đặc hữu của con người, do con người và vì con người, là dấu hiệu phân biệt sự khác nhau có tính bản chất giữa con người và con vật.
Con người sáng tạo ra các giá trị văn hóa đồng thời con người lớn lên, trưởng thành lên cùng với những giá trị văn hóa quý báu do mình sáng tạo ra. Thứ hai, văn hóa gắn với hoạt động sáng tạo của con người, mà bản thân hoạt động đó cũng như sản phẩm của nó thể hiện và thúc đẩy những năng lực bản chất của con người theo hướng đạt đến cái chân, cái thiện, cái mỹ. Thứ ba, văn hóa phải là cái mang giá trị. Giá trị nói ở đây là căn cứ vào “ý nghĩa con người, ý nghĩa xã hội và văn hóa” của những sự vật hiện tượng, là mức độ hữu ích của chúng đối với việc đáp ứng nhu cầu phát triển các mặt chân – thiện – mỹ của đời sống con người và xã hội trong thời gian và không gian cụ thể, xác định.
Giáo sư Vũ Khiêu viết: “chúng ta quan niệm giá trị là thành tựu của con người góp phần vào sự đi lên của lịch sử xã hội, phục vụ lợi ích và hạnh phúc của con người” [22, tr.11] Thứ tư, điểm mấu chốt nhất của văn hóa là nó phải được kết tinh nơi con người, trong tâm thức, trong cốt cách của con người và được thể hiện ra trong hoạt động và quan hệ con người. Cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong thể thao, trong giao tiếp,…là văn hóa. Cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ vợ chồng, thầy trò, giữa cộng đồng và cộng đồng khác, … là văn hóa.