Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Văn hóa cơ sở Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt có viết: “Cơ sở là cái làm nên nền tảng, trong quan hệ với những cái xây dựng trên đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát triển” [45, tr. Dưới góc độ xã hội, “cơ sở” được hiểu là một đơn vị hành chính cơ bản của một tổ chức dân cư, tổ chức nhà nước và các tổ chức kinh tế - xã hội thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
Các đơn vị hành chính, hành chính sự nghiệp (như cơ quan nhà nước, đoàn thể, trường học,…), đơn vị sản xuất, kinh doanh hay các đơn vị lực lượng vũ trang theo các tiêu chí riêng, cũng là những đơn vị cơ sở có đủ điều kiện để tổ chức việc xây dựng đời sống văn hóa theo quy định, có thể phối hợp với các cơ sở như làng, xã, thị trấn theo chỉ đạo chung. Cơ sở địa bàn dân cư (làng, bản, khu phố…) thường là nơi sản sinh ra các sản phẩm văn hóa dân gian, lưu giữ các giá trị truyền thống. Đó là những bảo tàng sinh động, hiệu quả và truyền thụ sâu sắc các giá trị văn hóa dân tộc tốt nhất từ thế hệ này sang thế hệ sau. Theo các nhà nghiên cứu, văn hóa cơ sở được hiểu là những hoạt động về nhu cầu vật chất, tinh thần của người dân trong điều kiện không gian, thời gian văn hóa tại địa phương.
Như vậy, văn hóa cơ sở là hình thức tổ chức cơ bản các hoạt động của văn hóa, bao gồm tất cả các hoạt động về sinh hoạt vật chất, tinh thần của người dân được tổ chức và thực hành tại cơ sở; các hoạt động văn hóa ở thiết chế văn hóa, tín ngưỡng tại địa phương; các hoạt động văn hóa nghệ 9 thuật, các phong tục, tập quán xã hội được thể chế hóa trong việc định hướng cho cộng đồng. Đời sống văn hóa cơ sở Đời sống văn hóa Văn kiện Đại hội XI của Đảng khẳng định: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa kế thừa, phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tiếp tục củng cố và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đưa phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả [24, tr. Thuật ngữ “đời sống văn hóa” xuất hiện và được sử dụng trong ngành văn hóa học vào những thập niên cuối thế kỷ XX.
Đây là một khái niệm quan trọng được đề cập nhiều trong các cuốn sách, tài liệu, giáo trình nghiên cứu giảng dạy. Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh, mục đích khác nhau nên cách tiếp cận cũng có những điểm khác biệt riêng. Theo tác giả Nguyễn Hữu Thức viết trong cuốn Về cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa: Đời sống văn hóa là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, tái tạo các sản phẩm văn hóa vật chất và tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người [65, tr. Tập thể tác giả cuốn: Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người.
Theo đó, 10 nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh thần thì giúp cho con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức là một nhân cách văn hóa [55, tr. Ngoài ra, một số nghiên cứu cho rằng, đời sống văn hóa là tổng hợp của những yếu tố vật thể văn hóa, hoạt động văn hóa của con người, tạo ra những mối quan hệ tương tác lẫn nhau trong cộng đồng người. Đời sống văn hóa được hiểu là tổng thể những hoạt động văn hóa diễn ra trong quá trình sản xuất, bảo quản, tiêu thụ các sản phẩm văn hóa nhằm thoả mãn nhu cầu văn hóa của một cộng đồng người. Đời sống văn hóa luôn mang tính kế thừa.
Kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của các thế hệ đi trước để tạo ra sự ổn định và tiền đề khẳng định những giá trị mới. Đời sống văn hóa luôn mang tính đổi mới, bởi lẽ con người luôn có những khát vọng vươn lên cái tốt đẹp, chỉ có mạnh dạn sáng tạo, mạnh dạn đổi mới mong đáp ứng nhu cầu càng cao về vật chất và tinh thần của con người. Hiện nay, khái niệm đời sống văn hóa được rất nhiều học giả đưa ra, lập luận và biện giải. Từ các góc độ tiếp cận đa dạng, mỗi định nghĩa đều có giá trị sử dụng nhất định.
Và, các khái niệm đều chỉ ra những điểm chung, đó là: khẳng định đời sống văn hóa là tổng thể những hoạt động của con người, với mục đích thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần; hướng tới chân, thiện, mĩ vì sự phát triển toàn diện của con người. Đời sống văn hóa bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh (các sản phẩm của văn hóa vật thể, thiết chế văn hóa) và các yếu tố văn hóa động (con người, hoạt động của con người). Như vậy, đời sống văn hóa là tổng hòa của các điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, khuôn mẫu ứng xử của một hình thái xã hội, có tính linh hoạt và cơ động xã hội cao, bao gồm hoạt động sản xuất vật chất cũng như như hoạt động sản xuất tinh thần của con người, tạo nên những mối quan hệ, sự liên kết với nhau. 11 Đời sống văn hóa bao gồm nhiều yếu tố hợp thành, đó là những giá trị văn hóa, thiết chế văn hóa và những mối quan hệ văn hóa không ngừng tác động lẫn nhau tạo thành một tổng thể hòa hợp.
Đời sống văn hóa cơ sở Đời sống văn hóa cơ sở được hiểu là tổng thể các hoạt động văn hóa ở các đơn vị văn hóa cơ sở như làng xóm, khu phố ở các địa bàn dân cư và các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế trên địa bàn đơn vị hành chính cơ sở (cấp xã) với mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, tạo một không gian sống văn minh và lành mạnh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Đời sống văn hóa cơ sở chính là xây dựng văn hóa ngay trong đời sống hàng ngày của nhân dân, phát huy quyền làm chủ trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tạo nên lối sống văn minh với những phong tục tốt đẹp, đảm bảo giữ gìn giá trị truyền thống tốt đẹp mang xu hướng phát triển của thời đại. Các thành tố của đời sống văn hóa cơ sở Dựa trên quan điểm của một số học giả hiện nay, đời sống văn hóa cơ sở được cấu thành bởi các thành tố: chủ thể văn hóa, sản phẩm văn hóa và các hoạt động văn hóa và cảnh quan văn hóa. Mặc dù hoạt động độc lập nhưng các thành tố đều có tác động với nhau, tạo nên diện mạo đời sống văn hóa của một cộng đồng người.
Thành tố thứ nhất là chủ thể văn hóa. Chủ thể văn hóa được xác định bởi yếu tố con người. Con người là chủ thể tác động đến các hoạt động văn hóa: Chủ thể lãnh đạo, quản lý; Chủ thể sáng tạo văn hóa (văn nghệ sĩ); Chủ thể người dân tham gia sáng tạo, hưởng thụ văn hóa. Thành tố thứ hai là sản phẩm văn hóa: Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể chính là sản phẩm của văn hóa.
Đây là một trong những yếu tố cấu thành nên đời sống văn hóa. Cụ thể, sản phẩm văn hóa vật thể tồn tại 12 dưới dạng vật thể, như di tích lịch sử, tác phẩm hội họa, cổ vật, danh lam thắng cảnh,… Sản phẩm văn hóa phi vật thể là loại sản phẩm không tồn tại hữu hình bằng vật thể, mà tồn tại dưới dạng lý thuyết thông qua các quan điểm, chuẩn mực của xã hội, được lưu truyền qua các thế hệ như các câu truyện truyền thuyết, các tín ngưỡng, tập quán, tâp tục dân gian, hay các làn điệu âm nhạc…, với nội dung phản ánh đời sống, tình yêu quê hương đất nước, lòng tự tôn dân tộc,… Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy, sản phẩm văn hóa vật thể hay sản phẩm văn hóa phi vật thể đều có vai trò quan trọng trong việc hình thành nên môi trường văn hóa tốt đẹp. Một môi trường sống văn minh sẽ là cái nôi nuôi dưỡng nhân cách con người, đồng thời thúc đẩy sự phát triển toàn diện của xã hội. Thành tố thứ ba là hoạt động văn hóa, bao gồm những hoạt động phong phú, đa dạng của con người trong quá trình sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa.
Con người là chủ thể tạo ra các hoạt động văn hóa, thúc đẩy hình thành một xã hội văn minh với những chuẩn mực tốt đẹp về nhân cách, về đạo đức, về lối sống,… Thành tố thứ tư là cảnh quan văn hóa, bao gồm cảnh quan nhân tạo (trụ sở, cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa) và cảnh quan tự nhiên bao quanh môi trường hoạt động văn hóa của con người. Đời sống văn hóa ở cơ sở là đời sống văn hóa diễn ra tại cộng đồng như: gia đình, làng, xóm, doanh nghiệp, cơ quan,… gồm các hoạt động văn hóa gắn liền với sinh hoạt vật chất và tinh thần của cá nhân, cộng đồng có sự liên kết với nhau. Một gia đình hay một cộng đồng dân cư định cư lâu dài đều được coi là đơn vị văn hóa cơ sở. Chính vì vậy, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở cốt lõi là xây dựng văn hóa ngay từ trong gia đình, từ những sinh hoạt văn hóa thường nhật tại cộng đồng nơi đang sinh sống.
13 Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước được đề ra tại Đại hội V (1982) của Đảng. Đây là một chủ trương quan trọng, mang tầm chiến lược đối với công cuộc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của đất nước.