phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, cấu trúc luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan về địa danh và các phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 2. Xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu địa danh Chƣơng 3. Xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh tỉnh Lai Châu 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA DANH VÀ CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH 1.
Tổng quan về địa danh 1. Các khái niệm cơ bản về địa danh Địa danh gắn liền với các công cuộc tìm kiếm, khám phá những vùng đất của loài ngƣời, nó là yếu tố động, liên quan đến sự xuất hiện hay mất đi của các đối tƣợng địa lý, sự thay đổi tên gọi của các đối tƣợng địa lý. Chúng ta vẫn thƣờng sử dụng địa danh trong đời sống hàng ngày nhƣng có lẽ ít ngƣời để ý đến khái niệm địa danh là gì? Theo Lê Trung Hoa trong tác phẩm ”Địa danh học Việt Nam” có định nghĩa: Địa danh là tên gọi của các đối tƣợng địa lý trên bề mặt Trái Đất bao gồm cả đối tƣợng địa lý tự nhiên, đối tƣợng địa lý nhân tạo đƣợc con ngƣời sử dụng trong quá trình sinh sống, là một bộ phận không thể tách rời của cuộc sống xã hội. Theo định nghĩa trong Đại Từ điển tiếng Việt: Địa danh là tên các vùng miền, tên địa phƣơng.
Trong bài ”Địa danh nƣớc ngoài trên bản đồ thế giới: khái niệm, thuật ngữ và phƣơng thức nhập nội địa danh” của GS.TS Hoàng Thị Châu trên website http//ngonngu.net có đƣa ra định nghĩa: Địa danh hay là tên địa lí (toponym, geographical name) là tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tƣợng địa hình khác nhau, tên nơi cƣ trú, tên hành chính,… đƣợc con ngƣời đặt ra. Địa danh có đƣợc định nghĩa nhƣ thế nào thì mỗi địa danh ra đời trong hoàn cảnh nhất định phản ánh thời điểm lịch sử xã hội chung quanh địa danh đó với rất nhiều biến cố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngôn ngữ,… đƣợc lƣu trữ trong địa danh nhƣ Điện Biên Phủ, Quảng Trị. Từ đó cho thấy , địa danh là tên gọi của các đối tƣợng trên bề mặt Trái Đất do con ngƣời đặt và sử dụng trong quá trình sinh sống và phát triển. Do địa danh đƣợc hình thành theo quá trình sinh sống của con ngƣời nên địa danh cũng có quá trình hình thành, phát triển và biến đổi theo trong cuộc sống của con ngƣời, phản ánh các thời điểm của xã hội loài ngƣời.
Từ đó hình thành bộ môn khoa học nghiên cứu địa danh, đƣợc gọi là địa danh học. Địa danh học là một bộ môn nghiên cứu về địa danh, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phân loại địa danh, các nguyên tắc và phƣơng pháp nghiên cứu địa danh, phân vùng địa danh, phƣơng pháp đặt địa danh, cấu tạo của địa danh, vòng đời của địa danh. Địa danh đƣợc thể hiện trên bản đồ đƣợc gọi là địa danh bản đồ, địa danh bản đồ có đặc điểm khác với địa danh trong ngôn ngữ là đƣợc xác định trong mô hình không gian thu nhỏ của thế giới thực theo quy định của bản đồ về tỷ lệ, về mô hình, ký hiệu. Dƣới góc độ xây dựng cơ sở dữ liệu địa danh Địa danh thể hiện trên bản đồ là tên các đối tƣợng địa lý thể hiện trên bản đồ, bao gồm danh từ chung chỉ loại và tên gọi của đối tƣợng địa lý đó.
Danh từ chung có thể đƣợc ghi trên bản đồ nhƣ xóm, thôn, … hoặc cũng có thể đƣợc thể hiện qua cách biểu diễn đối tƣợng trên bản đồ nhƣ kiểu chữ, màu chữ hoặc ký hiệu viết tắt nhƣng bất kỳ đối tƣợng nào đƣợc thể hiện trên bản đồ thì cũng đƣợc xếp loại vào một chuyên đề nhất định, gắn với một danh từ chung hoặc đƣợc ký hiệu theo một danh từ chung (có thể danh từ chung không đƣợc ghi cụ thể mà chỉ thể hiện qua màu chữ, kiểu chữ,.) Tên của đối tƣợng địa lý chính là thành phần quan trọng nhất của địa danh để phân biệt đối tƣợng này với đối tƣợng khác mặc dù có thể là cùng có tên gọi giống nhau nhƣ địa danh Cầu Giấy có thể có Quận Cầu Giấy và Cầu Giấy,… Nhƣ vậy, ta có thể nhận thấy rằng một địa danh nói chung sẽ bao gồm hai thành phần cơ bản là danh từ chung chỉ loại đối tƣợng và địa danh. Khi các danh từ chung trở thành một bộ phận cấu thành của địa danh thì viết hoa chữ cái đầu của danh từ chung nhƣ sau: Quận Cầu Giấy: danh từ chung + địa danh Cầu Giấy: danh từ chung + địa danh trong đó chữ “Cầu” là danh từ chung đã trở thành một bộ phận cấu thành của địa danh và đƣợc viết hoa chữ ”C”, tuy nhiên đây là trƣờng hợp rất khó xác định khi nào thì danh từ chung trở thành một bộ phần của địa danh, khi nào thì không trở thành một bộ phận của địa danh. Thông thƣờng thì địa danh có một âm tiết thì danh từ chung của chúng thƣờng đi kèm và trở thành một bộ phận của địa danh. Việc nghiên cứu địa danh giúp ta xác định thế nào là địa danh, có bao nhiêu loại địa danh ở Việt Nam, ngƣời Việt có mấy phƣơng thức đặt địa danh, cấu tạo của địa danh,… tuy nhiên trong đề tài này, học viên không đi sâu vào 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu địa danh theo hƣớng cách đặt địa danh, âm tiết của địa danh,.
mà học viên chỉ giới thiệu sơ qua về địa danh học ở khía cạch ngôn ngữ học để có một cái nhìn tổng thể về địa danh. Cấu tạo của địa danh Việt Nam Cấu tạo địa danh dƣới góc độ địa danh học và ngôn ngữ học có hai kiểu cấu tạo chủ yếu là cấu tạo đơn và cấu tạo phức. Địa danh có cấu tạo đơn Địa danh có cấu tạo đơn là địa danh gồm có một từ đơn đơn âm tiết hoặc một từ đơn đa tiết thuộc loại cấu tạo đơn. Các địa danh có thể là danh từ, động từ, hoặc số từ nhƣng đã chuyển thành danh từ nhƣ Nghĩa Tân, Rạch Lở, Chợ Mới, Phƣờng 8, … 1.
Địa danh có cấu tạo phức Là các địa danh gồm hai thành tố có nghĩa (từ, ngữ) trở lên thuộc loại cấu tạo phức. Loại này có thể chia ra nhƣ sau: a. Loại gồm các thành tố có quan hệ đẳng lập: Loại này gồm các thành tố thuộc cùng từ và có cùng chức năng. + Với địa danh thuần Việt: Loại địa danh thuần Việt có cấu tạo đẳng lập không nhiều nhƣ vùng Gò Môn (Gò Vấp + Hóc Môn), … + Với địa danh Hán Việt: Loại địa danh Hán Việt thƣờng có cách cấu tạo này và thành tố thƣờng là tính từ hoặc danh từ nhƣ Tân Phú, An Lạc, … Đôi khi hai, ba địa danh Hán Việt sát nhập thành một nhƣ Phú Khánh (Phú Yên + Khánh Hòa) Hà Sơn Bình (Hà Đông + Sơn Tây + Hòa Bình), ….
Loại gồm các thành tố có quan hệ chính phụ: Đa số địa danh thuần Việt có cấu tạo này, địa danh Hán Việt cũng có nhƣng ít hơn. + Địa danh thuần Việt: thành phần chính (thƣờng là danh từ, danh ngữ) đứng trƣớc thành phần phụ: Động từ + tính từ; tính từ + số từ; danh từ + số từ; danh từ + danh từ; …. nhƣ: cầu Đúc Nhỏ, cầu Đen 1, cầu Rạch Chiếc, …. + Địa danh không thuần Việt: Một số thành tố chính đứng trƣớc, một số thành tố chính đứng sau: Tính từ + danh từ, động từ + tính từ, số từ + danh từ, … nhƣ: Phƣớc Kiểng, An Đông, Hiệp Bình, Vĩnh Hội, phƣờng Tam Bình, … 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Địa danh hỗn hợp: Đa số có cấu tạo danh từ + danh từ, một số ít có cấu tạo danh từ + danh ngữ/ số từ / tính từ nhƣ huyện Hàm Tân, huyện Hàm Thuận Bắc, ….
Phân loại địa danh Tùy theo từng hƣớng nghiên cứu, cách tiếp cận mà các nhà nghiên cứu địa danh đã phân loại địa danh theo cách nghiên cứu của mỗi ngƣời, cụ thể nhƣ sau: - Các nhà địa danh học Liên Xô cũ đã chia địa danh theo đối tƣợng mà địa danh thể hiện, tức là dựa vào nội dung của nó. Trong cuốn sách Toponimija Moskvy, G. Gorbanevskij đã chia địa danh làm 4 loại: 1) Phƣơng danh (tên các địa phƣơng) 2) Sơn danh (tên núi, gò, đồi, …) 3) Thủy danh (tên các dòng chảy, hồ, …) 4) Phố danh (tên các đối tƣợng trong thành phố) Còn A. Superanskaja trong Chto takoe toponimika chia địa danh làm 7 loại nhƣ sau: 1) Phƣơng danh (tên các địa phƣơng) 2) Thủy danh (tên các sông, suối, hồ, …) 3) Sơn danh (tên núi, gò, đồi, …) 4) Phố danh (tên các đối tƣợng trong thành phố) 5) Viên danh (tên các quảng trƣờng, công viên) 6) Lộ danh (tên các phố) 7) Đạo danh (tên các đƣờng giao thông trên đất, trên nƣớc, trên không) - Trong các bài viết của Trần Thanh Tâm “Thử bàn về địa danh Việt Nam” có chia địa danh Việt Nam làm 6 loại: 1) Loại đặt theo địa hình và đặc điểm 2) Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian 3) Loại đặt theo tín ngƣỡng, tôn giáo, lịch sử 4) Loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu 5) Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế 6) Loại đặt theo sinh hoạt xã hội 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Trong hai cuốn sách “ Địa danh Việt Nam” và “Một số vấn đề về địa danh Việt Nam”, Nguyễn Văn Âu đã phân loại địa danh theo ba cấp: loại, kiểu và dạng.
1) Loại địa danh 1.1) Địa danh tự nhiên: sông Hồng, núi Trƣờng Sơn, … 1.2) Địa danh kinh tế - xã hội: làng Thƣợng Cát, huyện Sa Pa, … 2) Kiểu địa danh 2.1) Thủy danh: sông Hồng, hồ Núi Cốc,… 2.2) Sơn danh: núi Thằn Lằn, núi Bà Đen,… 2.3) Lâm danh: rừng Cúc Phƣơng, rừng Tánh Linh, … 2.4) Làng xã: làng Trại, xã Hải Bối, … 2.5) Huyện thị: huyện Sa Pa, huyện Từ Liêm,… 2.6) Tỉnh, thành phố: tỉnh Hà Giang, thành phố Hà Nội, … 2.7) Quốc gia: Việt Nam, Trung quốc, … 3) Dạng địa danh 3.1) Sông ngòi: sông Hồng, ngòi Thia, … 3.2) Hồ đầm: hồ Tây, hồ Trúc Bạch, … 3.3) Đồi núi: Trƣờng Sơn, Tây Côn Lĩnh 3.4) Hải đảo: Côn Đảo, Trƣờng Sa, … 3.5) Rừng rú: rừng U Minh, Cúc Phƣơng, … 3.6) Truông, trảng: trảng Bàng, truông Nhà Hồ, … 3.7) Làng, xã: Thƣợng Cát, Cổ Bi, … 3.8) Huyện, quận: Hoàn Kiếm, Từ Liêm, … 3.9) Thị trấn: Trùng Khánh, Đông Anh, … 3.10) Tỉnh: Thái Bình, Nam Định, … 3.11) Thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, ….