chương 1, người nghiên cứu trình bày về một số khái niệm công cụ, cốt lõi của để i, trinh bài về cơ sở lý luận (cơ sở ngôn ngữ học, cở sở tâm lí họe, cơ sở giáo dục học) và cơ sở thực tiễn (CT.2018 và ĐMR, học lí day hc BMR, thực trang day học ĐMR) của vấn để dạy học đọc mở rộng cho HS lớp Hai. Trên cơ sử kết quả của churong 1, người nghiên cứu tiễn hình thiết kế một số bài tip DMR cho HS lớp Hai ở chương tip theo 1.1, Một số khái niệm. Đạc, đạc hiễu LLL. Boe Vign si M.
Lovp cho ring: “Đọc là một hoạt động ngôn ngữ, là quá trnh chuyển dạng thức chữ vết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành in), là quả mình chuyển trực tiếp từ bình thức chữ viết thành các đơn vị không có âm thanh (ứng với đọc thằm)” (SỞ ay thuật ngữ phương pháp day hoc tiếng Nga, 1988, dẫn theo Lê Phương Nga, 2002). “Đạc không phải chỉlà ti tạo âm thanh từ chữ viết mà còn là quá tình thức tỉnh sảm xúe, quá trình tỉ giác và nhuẫn thắm tín hiệu để giải mã ngôn ngữ, mã nghệ thuật, mã văn hỏa đồng thôi với việc huy động vốn sống, kinh nghiệm cá nhân người đạc để lựa chọn giá trị tư tưởng thấm mĩ và ý nghĩa vốn có của tác phẩm [.] Đọc không phải chỉ là hoạt động nhận thức nội dung ý nghĩa từ văn bản mà còn là hoạt động trực quan sinh động gidu cảm xúc, có tính trực giác và hái quát trong nm trải của con người.” (Nguyi Thanh Hùng, 2020) 6 ludn văn này, tác giá quan niệm "Đọc hiểu là sự hiểu biết, sử dụng, phản hồi và chiếm lĩnh các văn bản viết nhằm đạt được những mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng cũng như tham gia vào đời sống xã hội của mỗi cá nhân” (PISA, 2012); "là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sắng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tả liệu viết hoặc inấn kết hợp với nhăng bối cảnh khác nhau” 1. Đọc hiểu (1) Đọc bình thường Hoạt động đọc bình thường là việc học sinh đọc các đoạn văn ngắn, câu chuyện, bài thơ hoặc văn bản thông tin một cách thông thường, không có sự phân tích hay suy luận sâu sắc về nội dung. Mục tiêu chính của hoạt động này là giáp học sinh phát triển kĩ năng đọc hiểu cơ bản và quen thuộc với việc đọc các loại văn bản khác nhau.
(2) Boc ma ring Đọc mở rộng là hoạt động HS được GV hướng dẫn tự đọc các văn bản ngoài văn bản đọc trong SGK. Thuật ngữ "đọc mở rộng” thường được sử dụng trong ngữ cảnh giáo dục để chỉ việc phát triển kĩ năng đọc của HS với nhỉ loại văn bản ngoài những đoạn, bài trong sách giáo khoa ~ học trong giờ đọc hiểu chính khóa. Đọc mỡ rộng không chỉ lập trung vào việc đọc để lầy thông tin, mà còn nhắn mạnh vào việc hiểu các tác phẩm văn học. (enayện ngẫn thơ bài văn miều ) và các VBTT (VB tin tc, VB hướng đã VB giới thiệu, .) Điều này giúp học sinh mở rộng kiến thúc, tăng cường vốn từ vựng, nâng sao kĩ năng đọc hiểu và phát iển sự sáng tạo và tư duy phê phần (8) Đọc hiẫu chuyên sâu Đọc chuyên sâu ở bậc tiểu học được hiểu là quá trình giúp học sinh hiểu và phân tích một văn bản một cách kĩ lưỡng và chỉ tiết.
Học sinh phải hiểu ý nghĩa của từ ngũ, câu, đoạn văn, văn bản; phải nim ni dung eda vin ban; tim được ý nghĩa của văn bản Đọc chuyên sâu giúp học sinh phát triển kĩ năng đọc hiểu du sắc, suy luận và phân ích, từ đó nâng cao khả năng suy nghĩ và phản biện của HS 1. MỖI quan hệ giãn đọc bình thường, đọc mở rộng và đọc chuyên sâu Đọc bình thường giúp xây đựng nên tng cho việc đọc mở rồng: giúp học sinh phát triển kỹ năng đọc hiểu cơ bản như nhận biế từ, hiểu câu. và ổ chúc thông n trong văn bản, tạo sự tự in, mở rộng phạm vi đọc cho HS DMR có mục tiêu mở rộng phạm vi tử vụng, kiến thức và khả năng đọc hiểu của học sinh bằng cách tiếp cận các văn bản đa dạng trong nhiều lĩnh vực. Còn đọc chuyên sâu có mục đích phát tr khả năng đọc hiễu sâu sắc.
DMR thường tập trung vào việc tiếp xúc với nhiều loại văn bản khác nhau (truyện, thơ, van miéu ta, văn bản thông tin), IIS được khuyến khich tự chọn văn bản theo sở thích và quan tâm cá nhân. Đọc chuyên sâu thường đòi hỏi sự hướng dẫn cẳn thận và chỉ tiết từ GV, Ở tiểu học, hoạt động đọc chuyên được thư hiện trên lớp. HS vận dụng những kĩ năng đọc ở đọc bình thường, đọc mở rộng để suy luận nghĩa của tử, cụm từ, câu văn, đoạn văn để tì hiểu nội dung và tìm hiễu bình thức của văn bản, từ đó HS có thể liên hệ, so sinh, kết ni với những kiến thức đã học và với thực tiễn 1. Văn bản, in bản truyện, thơ, miêu tả; vẫn bản thông tin 1131.
Văn bản “Van ban là sản phẩm ngôn ngữ hoàn chỉnh ở cả ba. diện, hình thức, và nội dung” (Trần Ngọc Thêm, 1989) Trong luận văn này, văn bản được hiểu là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng. ngôn ngữ viết gầm có nhiều câu, nhiều đoạn được sắp xếp theo một bổ cục nhất định tạo thành một văn bản, Tủy thuộc vào phong cách chức năng, bên cạnh phương tiện ngôn ngữ, văn bản có thể gôm những phương tiện phi ngôn ngữ như bảng, biểu, sơ lồ, hình ảnh ~ chẳng hạn báo cáo khoa học, bài đọc trong SGK. Van bản truyện 'Văn bản truyện là tác phẩm văn học thuộc loạih h tự sự “miêu tả tính cách nhân vật và diễn biến của sự kiện thông qua lờkể của nhà văn” (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê, 2018, tr 1335).
"Truyện là tác phẩm thuộc loại hình ự sự cổ hai thành phẩn chủ yếu là cốt truyện và nhân vật. Thủ pháp nghệ thuật chính là kể. Truyện thừa nhận vai trò rộng rầi của hư cầu và tưởng tượng "(Từ điễn Thuật ngữ Văn học, LẺ Bá Hán và cộng sự, 2007). Văn bản thơ Tho la dang thức chủ yếu của văn bản biểu cảm.
Ở tiểu học, HS được học các thể loại đơn giản, phố biến, như ca dao, khiến thơ bồn chữ, năm chữ, ca dao, về dân gian, thơ lục bất, thơ thất ngôn. Ở SGK Tiếng Việt bộc tiêu học, CT.2006, văn bản thơ chiếm khoảng 30% tổng số VBVC. 10 Van ban miéu tả “Có nhiều định nghĩa về văn bản miễu tả, đề phủ hợp với mục tiga, nhigm vụ của tài, tác giả luận văn quan n mm vấn bản miễu rả được đưa vào đạy học ở bậc tiễn học là loại "văn bản văn chương cung cấp thông tin chân thực, sinh động về đối tượng” (không phải là miêu tả khoa học). "Văn miêu tả là một bức tranh được vẽ lại, tái hiện lại bằng ngôn ngữ, bằng văn bản nghệ thuật từ kết quả của một quá trình quan sát chủ động, tích cực về các đặc điểm của sự vật, hiện tượng một cách chân thực, sinh động, tỉnh tế qua sự tiếp cận trực tiếp bằng các giác quan, cảm xúc, ngôn ngữ, trì thức của người viết nhằm gửi đến người đọc, người nghe cải đẹp của cuộc sống.
Van ban thong tin 'VBTT là loại văn bản chủ yếu dùng để cung cấp thông tin vŠ con người, sự vật hiện tượng hoặc bướng dẫn thực hiện hoạt động dựa trên các số liệu, sự kiện khách. «quan và kiến thức khoa học. VBTT thường được trình bảy bằng kênh chữ kết hợp với các kênh khác như hình ảnh, âm thanh. 'VBTT được đạy học ở môn Tiếng Việt bậc tiéu hoe theo CT.2018 là VB truyền đạt hông tin, kiến thức, với các kiểu loại cụ thể như: VB nói vỀ người, sự vật, địa danh, hiện tượng tự nhiên, xã hội: thuyết minh về một đổi tượng; chỉ dẫn các bước.
thực hiện một công việc hoặc làm/sử dụng mot sản phẩm; báo cáo nghiên cứu.3, Bài tập, bài tập đạc mổ rộng. Bai tập Trong dạy học, bài tập là dạng bài học giữ vai trò quan trọng không thể thiếu, vì day là (những) bài ra cho HS làm để HS tập vận dụng những điều đã học, các kiến thúc chỉ được cũng cổ, được khắc sâu qua việc HS thực hiện các bãi tập. Mặt khác, thực hiện nhiệm vụ giải bài tập giúp cho quá trình học tập của HS đa dạng hơn, tránh. được sự nhằm chấn, nặng nẺ.
Mục iêu họ tập chỉ phối nội dong, hình thắc bãi tập, Chẳng hạn, mục tiêu nắm vững các khái niệm từ và câu là các bài tập luyện tập để. hiểu khái niệm và vận dụng vào thực 1. Bài tập đọc mở rộng. Bài tập đọc mỡ rông, theo CT.2018 là những bài tập đọc hiểu ngoài giờ chính khóa trên cơ sở các bài đọc ở giờ tập đọc (đọc hiểu) trên lớp, Theo yêu cầu cần đạc của CT.2018, bên cạnh các bài đọc hiểu trên lớp (gồm văn bản đọc, tranh ảnh minh.
họa và hệ thống câu hỏi gợi ý), HS còn phải đọc các văn bản mở rộng cùng thể loại và cùng độ đài với VB trên lớp. Dựa theo yêu cần cần đạt của CT.2018, luận vẫn quan niệm: bài tập ĐMR là những bai đọc có dung lượng và độ đài tương đương với bài đọc trên lớp của lớp học tương ứng (lớp Một, Hai, Ba, Bốn, Năm). Và vì yêu cầu HS tự đọc, viết nhật kí đọc sách và chia sẽ với bạn về bai mình đã đọc nên phần câu hỏ hướng dẫn đọc hiểu ở ĐMR chỉ là những điều cơ bản, đơn giản, nhất là với HS lớp Hai, nh tn bai, tn te giả (bơ, truyện, miêu tả, giới thiệu,.); nhân vật, chỉ tế em, thích (ĐMR VB truyện) từ dùng hay, hình ảnh đẹp (VBMT); thông tín mới, thú vị {VBTT) mà không phải là hệ thống câu hỏi đọc hiểu nội dung, đọc hiểu hình thức, câu hồi iên hệ, so sánh, kết nỗi như câu hỏi đọc hiểu ở những VB đọc hiểu trong giờ chính khóa. Bên cạnh đó, bài tập dùng cho VB ĐMR cũng không nhất thiết phải có.
mình họa đầy đủ như bài đọc hiễu giờ chính khóa ở SGK. Do d câu hỏi ở bài tập. ĐMMR cho HS lớp Hai ẽ tập trong vào đọc hiểu câu, đoạn, văn bản mà không yêu cầu về đọc hiễu về tranh mình họa, bảng biểu, sơ đổ. Hình ảnh trong VD của bài DMR cho HS lớp Hai, nếu có chỉ có tỉnh chất kích thích hứng thủ và hỗ trợ thêm cho HS nắm bắt thông tin mà thôi.
Vì vậy, tác giả luận văn Xây dựng bài tập đọc mở rộng.