Chương 1 GVHD: TS. Trương Việt Anh Chương 2: Tổng quan về lưới phân phối và DG. Chương 3: Phương pháp tiếp cận. Chương 4: Xác định vị trí và dung lượng DG có xét đến cấu hình lưới trên hệ thống phân phối huyện Chư Prông, Gia Lai.
Chương 5: Kết luận và hướng phát triển cho đề tài. HVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 5 Luan van Chương 2 GVHD: TS. Trương Việt Anh CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI VÀ NGUỒN ĐIỆN PHÂN TÁN 2.1 Tổng quan về lưới điện phân phối: 2.Đặc điểm lưới điện phân phối: Lưới điện phân phối bao gồm các TBA (Trạm biến áp) và đường dây tải điện, trực tiếp cung cấp điện năng cho các hộ tiêu thụ. Lưới điện phân phối thực hiện nhiệm vụ phân phối điện cho một địa phương (một thành phố, quận, huyện.) có bán kính cung cấp điện nhỏ hơn 50 km, tuy nhiên thực tế hiện nay bán kính cấp điện có khu vực có thể lên đến 100 km.
Tổng chiều dài và số lượng máy biến áp chiếm tỷ lệ lớn trong toàn hệ thống, số lượng lộ ra, nhánh rẽ lớn hơn 5 – 7 lần lưới điện truyền tải. Đường dây tuy có bán kính cấp điện ngắn nhưng cấu trúc phức tạp. Sơ đồ nguyên lý lưới điện phân phối điển hình Lưới điện phân phối nhận điện từ các các trạm phân phối khu vực gồm: Trạm 110/35-22-15-10-6 KV. Hiện nay lưới điện phân phối của Việt Nam đang quy dần về cấp điện áp 22 KV, và một số cấp điện áp 35 KV.
Hoặc một số trạm trung HVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 6 Luan van Chương 2 GVHD: TS. Trương Việt Anh gian 35/22-15-10-6 KV. Phương thức cung cấp điện của lưới điện phân phối: Phân phối theo một cấp trung áp. Trạm phân phối có thể là các trạm nâng áp của các nhà máy điện phân tán, hoặc trạm phân phối khu vực dạng CA/TA (110/35-22-15-10-6 KV) Trạm nguồn Trạm phân phối Hộ phụ tải Mạng trung áp Mạng hạ áp Mạng trung áp Mạng hạ áp Hình 2.
Sơ đồ khối hệ thống điện Lưới điện phân phối có ảnh hưởng rất lớn đến các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của toàn hệ thống, đó là: HVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 7 Luan van Chương 2 GVHD: TS. Trương Việt Anh - Chất lượng cung cấp điện: ở đây là độ tin cậy cung cấp điện và độ dao động của điện áp, tần số tại phụ tải - Tổn thất điện năng: Thường tổn thất điện năng ở lưới phân phối lớn gấp 3 đến 4 lần so với tổn thất ở lưới truyền tải. - Giá đầu tư xây dựng: nếu chia theo tỉ lệ cao áp, phân phối trung áp, phân phối hạ áp thì vốn đầu tư mạng cao áp là 1, mạng phân phối trung áp, hạ áp thường từ 2,5 đến 3 lần. - Xác suất sự cố: Sự cố gây ngừng cung cấp điện, hoặc cắt điện để sữa chữa, bảo quản theo kế hoạch, cải tạo, xây lắp đường dây và trạm phân phối mới,.
Lưới phân phối cũng nhiều hơn lưới truyền tải.2 Nhiệm vụ của lưới điện phân phối: - Cung cấp phương tiện để truyền tải năng lượng điện đến hộ tiêu thụ. - Cung cấp phương tiện để các công ty điện lực có thể bán điện. - Đảm bảo chất lượng điện năng và độ tin cậy cung cấp điện. - Đảm bảo các thông số vận hành trong giới hạn cho phép.
- Các hệ thống bảo vệ hoạt động tin cậy. - Đường dây, máy biến áp và các thiết bị khác không bị quá tải.3 Chế độ vận hành lưới điện phân phối: Chế độ vận hành bình thường của lưới điện phân phối là vận hành hở, hình tia hoặc dạng xương cá. Để tăng cường độ tin cậy cung cấp điện, các nhà phân phối đã dần tiến tới xây dựng lưới theo cấu trúc vòng nhưng vận hành hở. Trong mạch vòng, các xuất tuyến được liên kết với nhau bằng dao cách ly hoặc thiết bị nối mạch vòng (Ring main unit, dao cắt có tải, Recloser).
Các thiết bị này vận hành ở vị trí mở. Trong trường hợp cần sữa chữa hoặc sự cố đường dây, thiết bị, việc cung cấp điện không bị gián đoạn lâu dài nhờ chuyển đổi nguồn cung cấp bằng thao tác đóng cắt các DCL phân đoạn, hay tự động chuyển đổi nhờ các thiết bị nối mạch vòng. HVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 8 Luan van Chương 2 GVHD: TS. Trương Việt Anh Hình 2.3 Các chế độ vận hành của lưới điện phân phối So với mạng hình tia, mạng mạch vòng có chất lượng điện tốt hơn, đó chính là lý do tồn tại của mạch vòng, song lại gây phức tạp về vấn đề bảo vệ rơle.
Cấu trúc mạch vòng chỉ phù hợp cho những máy TA/HA có công suất lớn và số lượng trạm trên mạch vòng ít. Mặt khác, cùng với một giá trị đầu tư thì hiệu quả khai thác mạch vòng kín sẽ thấp hơn so với mạch hình tia. Ngoài ra, do chất lượng phục vụ của mạng hình tia đã liên tục được cải thiện, đặc biệt là những thập niên gần đây với sự xuất hiện các thiết bị tự động, việc giảm bán kính cung cấp điện do xây dựng thêm nhiều trạm phân phối trung gian, tăng tiết diện dây dẫn và bù công suất phản kháng. nên chất lượng điện mạng hình tia đã được cải thiện nhiều.
Kết quả của các nghiên cứu và thống kê từ thực tế vận hành đã đưa đến kết luận: Lý do chính để lưới điện vận hành hình tia là đơn giản trong vận hành, trình tự phục hồi lại kết cấu lưới sau sự cố dễ dàng hơn, vùng mất điện bé và không lan tràn khi có sự cố, ít gặp khó khăn trong việc lập kế hoạch cắt điện cục bộ, có dòng ngắn HVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 9 Luan van Chương 2 GVHD: TS. Trương Việt Anh mạch bé nên đơn giản hóa các thiết bị đóng cắt và bảo vệ trên các xuất tuyến,….Thông thường, việc tái cấu trúc lưới điện cần thiết để phục hồi việc cung cấp điện cho các khách hàng sau sự cố, hoặc trong quá trình cắt điện để sửa chữa, giảm tổn thất của hệ thống và cân bằng tải để tránh quá tải trên lưới,…. Việc khôi phục lưới điện được thực hiện thông qua các thao tác đóng cắt các cặp khóa điện nằm trên các mạch vòng, hoặc sử dụng các nguồn phân tán hiện có trong khu vực do đó trên lưới phân phối có rất nhiều khóa điện. Nhưng lưới điện hình tia cũng có một số nhược điểm cần khắc phục là: Tổn thất công suất trên hệ thống lớn, sụt áp trên đường dây cao, và độ tin cậy cung cấp điện kém.
Để khắc phục cần thay đổi cấu trúc lưới điện.4 Ứng dụng các đặc điểm của lưới điện phân phối để tái cấu trúc lưới điện. Một đường dây phân phối luôn có nhiều loại phụ tải khác nhau (ánh sáng sinh hoạt, thương mại dịch vụ, công nghiệp…) và các phụ tải này được phân bố không đồng đều giữa các đường dây. Mỗi loại tải lại có thời điểm đỉnh tải khác nhau và luôn thay đổi trong ngày, trong tuần và trong từng mùa. Vì vậy, trên các đường dây, đồ thị phụ tải không bằng phẳng và luôn có sự chênh lệch công suất tiêu thụ.
Điều này gây ra quá tải đường dây và làm tăng tổn thất trên lưới điện phân phối. Để chống quá tải đường dây và giảm tổn thất, ngoài việc thay đổi cấu trúc lưới điện vận hành bằng các thao tác đóng/cắt các cặp khoá điện hiện có trên lưới thì việc sử dụng các nguồn phân tán là một trong những giải pháp cần xem xét. Vì vậy, trong quá trình thiết kế các loại khoá điện (Recloser, LBS, DCL…) sẽ được lắp đặt tại các vị trí có lợi nhất để khi thao tác đóng/cắt các khoá này vừa có thể giảm chi phí vận hành và vừa giảm tổn thất năng lượng đồng thời kết hợp để kết nối với các nguồn phân tán khi cần thiết. Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển, phụ tải liên tục thay đổi, vì vậy xuất hiện nhiều mục tiêu vận hành lưới điện phân phối để phù hợp với tình hình cụ thể.
Tuy nhiên, các điều kiện vận hành lưới phân phối luôn phải thoả mãn các điều kiện: HVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 10 Luan van Chương 2 GVHD: TS. Trương Việt Anh - Cấu trúc vận hành hở (Hình tia). - Đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện, sụt áp trong phạm vi cho phép. - Các hệ thống bảo vệ hoạt động tin cậy.
- Đường dây, máy biến áp và các thiết bị khác vận hành ở giới hạn cho phép. - Điện áp rơi ở mức cho phép… Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng kết nối nguồn điện phân tán sẽ mang lại nhiều hiệu quả thiết thực khi tham gia hệ thống phân phối, khi sử dụng DG sẽ góp phần giảm bớt gánh nặng công suất vào giờ cao điểm, giảm tổn thất trên đường dây, cải thiện chất lượng điện năng, nâng cao độ tin cậy và thân thiện với môi trường. Nó còn góp phần vào việc giảm áp lực đầu tư cải tạo lưới điện hiện hữu, giảm chi phí nhiên liệu, chi phí vận hành và đáp ứng tốt về khả năng dự phòng cho hệ thống. Tổng quan về nguồn điện phân tán (DG - Distributed Generation) 2.1 Khái niệm: Khái niệm nguồn điện phân tán đã được nêu nhiều trong các quá trình nghiên cứu về DG [1].
Tuy nhiên các tác giả chưa đưa ra được định nghĩa chung cho khái niệm này. Hiện nay trên thế giới cũng chưa có định nghĩa thống nhất về nguồn điện phân tán [2], [3], [4]. Một số quốc gia định nghĩa nguồn điện phân tán là nguồn điện theo các thông số cơ bản như: “nguồn điện phân tán là nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo, không điều khiển tập trung.”; hoặc một số khác căn cứ theo cấp điện áp mà nguồn điện đó đấu nối vào: “nguồn điện phân tán là nguồn điện đấu nối vào lưới điện cung cấp điện trực tiếp cho phụ tải khách hàng”. Các tổ chức quốc tế cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về nguồn điện phân tán, chủ yếu xoay quanh về đề kích cỡ và chủng loại.
Các định nghĩa đó như sau: - Theo Hội đồng Quốc tế về các các hệ thống điện lớn (CIGRE - International Council on Large Electricity Systems): các nguồn điện không phải là nguồn trung tâm, được đặt gần phụ tải và nối vào mạng điện phân phối, có công suất nhỏ hơn 100MW gọi là DG. - Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA - International Energy Agency) định nghĩa DG là nguồn điện phục vụ trực tiếp phụ tải khách hàng hoặc hỗ trợ cho lưới điện phân phối, được đấu nối vào hệ thống điện ở các cấp điện áp của lưới phân phối. HVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 11 Luan van Chương 2 GVHD: TS.