Mở đầu, Mục 1.1 trình bày một số khái niệm cơ bản về từ và ngữ nghĩa của từ, một số giả thuyết ngữ nghĩa cơ bản. Luận án cũng giới thiệu về hai mô hình biểu diễn ngữ nghĩa bằng không gian vector gồm mô hình ngữ nghĩa phân phối và mô hình nhúng từ (Mục 1. Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày tổng quan, phân tích đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan và đưa ra các vấn đề còn tồn tại mà luận án sẽ giải quyết về ba bài toán gồm zác định quan hệ bao thuộc (Mục 1.4), phân tách quan hệ đồng nghĩa - trái nghĩa (Mục 1.5), và đo lường độ tương tu ngữ nghĩa của cap từ (Mục 1.1 Một số khái niệm cơ bản về từ 1.1 Hình vị Hình vị (Morpheme) hay từ fố, ngỡ tố là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, chúng tồn tại bằng cách lặp đi lặp lại dưới cùng một dạng hoặc dưới dạng tương đối giống nhau trong các từ [150]. Hình vị có thể đứng riêng một mình hay bị lệ thuộc.
Ví dụ: Một số hình vị tiếng Anh: house, man, black, sleep, walk, v.v Một số hình vị tiếng Việt: nhà, người, đẹp, tốt, đi, làm, v.v Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập (hay còn gọi là ngôn ngữ cách thể) nên một hình vị là một fiếng hay một chữ. Kiến thúc cơ sở tà các nghiên cứu liên quan 9 1.2 Tw và nghĩa của từ Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể dé dàng tách khỏi chuỗi âm thanh lời nói, có cấu trúc hình thức chặt chẽ, có nội dung ý nghĩa hoàn chỉnh và được sử dụng như là những vật liệu có săn để tạo ra những đơn vị thông báo. Từ có thể làm tên gọi của sự vật (danh từ), chỉ các hoạt động (động từ), trạng thái, tính chất (tính từ), v. Từ là công cụ biểu thị khái niệm của con người đối với hiện thực.
Trong tiếng Việt, ngoài các từ đơn còn có các đơn vị có tính chất và chức năng như từ, chúng được gọi là những đơn ui tương đương từ như: từ phức (hạnh phúc, xanh ri, v.v), thuật ngữ (OSI, ozit bazơ, cây cân bang, v.v), quán ngữ (vui như tết, buồn như trấu căn, khôn nhà dại chợ, v.v), thành ngữ (bút Nam Tào, dao thay thuốc; nếm mật nam gai; hoc thay không tàu học ban, v. Trong phạm vi của dé tài, luận án chỉ nghiên cứu một số quan hệ ngữ nghĩa của từ đơn, từ phức và thuật ngữ (sau đây gọi chung là từ). Trong ngữ nghĩa học từ vựng, nghia (Meaning) và nghĩa thành phan (Sense) của từ là hai khái niệm cơ bản. Theo Nguyễn Thiện Giáp [32], nghĩa thành phần của từ là cái sở biểu của từ; Nghia của từ là mối quan hệ giữa năng biểu và sở biểu, nó là quan hệ của từ với cái gì đó nằm ngoài bản thân nó.
Nghĩa của từ là một hiện tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản hơn như nghĩa sở biểu, nghĩa sở thị, nghĩa sở chỉ, nghĩa sở dụng, nghĩa ngữ pháp [32]. Một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa thành phần, nói cách khác, nghĩa thành phần là sự thể hiện rời rac về nghĩa của từ. Ví dụ, một số nghĩa thành phan của từ di được liệt kê trong WordNet tiếng Việt như sau: — Địi: làm cho thú gi đó di qua hay đưa đến nơi nào đó, ví dụ: "đi dâu điện ra sau ? tu". — Dig: di hay di qua một quãng đường, ví du: "chiếc xe này có thể di được 150 ki 16 mét mét gid".
— Dis: (tàu xe) có trang thái nào đó khi lái, ví du: "ze di rất tốt". — Dig: đi trên, di doc theo hoặc di qua, ví dụ: "di trên các xa lộ ở California". — Dis: ngồi trên lưng một con vat, thường trong khi điều khiển chuyển động của nó, ví dụ: "Tôi còn thấu cảnh day té di ngựa như các hoàng tử". Kiến thúc cơ sở tà các nghiên cứu liên quan 10 1.3 Ngữ nghĩa từ vựng Ngữ nghĩa hoc (Semantics) là lĩnh vực nghiên cứu về cách mà ngôn ngữ được sử dụng để biểu đạt ý nghĩa của các thành phần ngôn ngữ.
Nói cách khác, ngữ nghĩa học nhằm mục đích giải thích cách thức các nghĩa đen được mã hóa và giải mã bằng ngôn ngữ bởi người nói và người nghe. Ngữ nghĩa học từ vựng (Lexical Semantics) là lĩnh vực nghiên cứu nghĩa của hình vị, từ và các mối quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng, cũng như cách thức mà nghĩa của từ liên quan đến cấu trúc và ngữ pháp [125].1 cho thấy rằng ngữ nghĩa học từ vựng là các nghiên cứu thuộc tầng cơ bản và cốt lõi nhất trong lĩnh vực ngữ nghĩa học, cũng như đóng vai trò quan trọng đối với các bài toán xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Tầng ngữ nghĩa từ vựng (Lexical Semantics) Tang ngữ nghĩa hợp thành ¬.^ (Compositional Semantics) CÔ NghữãeñAcậu "`.1 : Kiến trúc các tầng ngữ nghĩa.4 Quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ Quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ là chủ đề nghiên cứu được quan tâm trong nhiều lĩnh vực như triết học, tâm lý học nhận thức, và khoa học máy tính. Các quan hệ ngữ nghĩa của từ đóng một vai trò thiết yếu trong ngữ nghĩa học từ vựng và được ứng dụng ở nhiều cấp độ trong các tác vụ hiểu và sinh ngôn ngữ.
Các quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ cũng là yếu tố trung tâm trong việc tổ chức các cơ sở tri thức ngữ nghĩa từ vựng [17]. Có nhiều loại quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận án này, luận án chỉ nghiên cứu về bốn quan hệ ngữ nghĩa cơ bản gồm: bao thuộc, đồng nghĩa, tương đồng ngữ nghĩa, trái nghĩa. Kiến thúc cơ sở tà các nghiên cứu liên quan 11 1.1 Quan hệ liên quan ngữ nghĩa Khái niệm quan hệ liên quan ngữ nghĩa (Semantic Relatedness) trong ngôn ngữ học tính toán tương ứng với khái niệm tương tự thuộc tính (Attributional Similarity) trong khoa học nhận thức. Hai từ được gọi là có liên quan ngữ nghĩa nếu giữa chúng tồn tại bất kỳ một loại quan hệ ngữ nghĩa nào.
Quan hệ liên quan ngữ nghĩa được đặc trưng bởi các từ thường xuyên xuất hiện cùng nhau trong một số ngữ cảnh, có liên quan về thời gian, không gian, ví dụ như sting - bắn, bóng đá - cầu thủ, v.v loại quan hệ nay còn được gọi là quan hệ liên kết ngữ nghĩa (Semantically Association). Mức độ liên quan ngữ nghĩa của hai từ tỷ lệ với mức độ chia sẻ các thuộc tính ngữ nghĩa giữa chúng [128].2 Quan hệ tương tự ngữ nghĩa Trong lĩnh vực ngôn ngữ học tính toán, quan hệ tương tự ngữ nghĩa (Semantic Similarity) hay tương đồng phân loại (Taxonomic Similarity) dùng để chỉ các từ có sự tương đồng với nhau về loại hoặc chức năng. Resnik [110] cho rằng hai từ tương tự nhau về ngữ nghĩa nếu chúng có chung một từ bao. Ví dụ từ ô£ô và zeđạp có chung từ bao là re.
Quan hệ tương tự ngữ nghĩa là trường hợp đặc biệt của quan hệ liên quan ngữ nghĩa. Theo Navigli và Martelli [87], quan hệ tương tự ngữ nghĩa được đặc trưng bởi khả năng các từ có thể được dùng thay thế cho nhau trong một số ngữ cảnh nhất định mà không thay đổi đáng kể ngữ nghĩa cơ bản của câu. Xác định mức độ tương tự ngữ nghĩa giữa hai từ là phép đo thống kê mức độ chia sẻ các thuộc tính ngữ nghĩa giữa chúng. Phép đo này có ích trong một miền rất rộng các ứng dụng của lĩnh vực NLP.
Mặc dù một số phương pháp do đã được đề xuất để giải quyết bài toán này. Tuy nhiên, cho đến hiện tại, việc tính toán chính xác độ tương tự ngữ nghĩa giữa các từ vẫn còn là một thách thức lớn.3 QQuan hệ bao thuộc Quan hệ bao thuộc (Hypernymy) là một quan hệ ngữ nghĩa bất đối xứng giữa một tu bao (Hypernym) với một tv thuộc (hyponym), ví dụ thuật toán là một từ bao của lan truyêền ngược, ze đạp điện là một từ thuộc của zeđạp. Quan hệ bao thuộc còn được gọi là quan hệ Ia mot (IS-A) [71, 137], quan hệ kế thừa từ vung (Lexical Entailment) [7, 7, 18, 130], hoặc quan hệ phân loại (Taxonomic Relation) [71]. Kiến thúc cơ sở tà các nghiên cứu liên quan 12 1.4 Quan hệ đồng nghĩa Quan hệ đồng nghĩa (Synonymy) là quan hệ ngữ nghĩa giữa hai từ có nghĩa giống nhau, chúng có thể được dùng thay thế cho nhau trong một số ngữ cảnh mà không làm nghĩa của câu thay đổi [S6].
Ví dụ, do khán. giả và người em là hai từ đồng nghĩa nên hai câu sau đây tương đồng với nhau về nghĩa: - "Phim có nhiều đoạn khiến khán gid bị ngắt mạch cảm xúc bởi mảng miếng hài đan xen”. - "Phim có nhiều đoạn khiến người zem bị ngắt mạch cảm xúc bởi mảng miếng hài đan xen". Mặc dù tương đồng với nhau về nghĩa nhưng các từ đồng nghĩa khác nhau về âm thanh và có phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách nào đó, hoặc đồng thời cả hai.5 Quan hệ trái nghĩa Quan hệ trái nghĩa (Antonymy) là quan hệ giữa các từ đối lập với nhau về nghĩa [72].
Quan hệ trái nghĩa lần đầu tiên được đề cập đến như một quan hệ ngữ nghĩa đối lập với quan hệ đồng nghĩa trong nghiên cứu của Smith [122] vào năm 1867. Trái nghĩa là một quan hệ có mặt trong tất cả các ngôn ngữ, được xác lập trên cơ sở của sự liên hệ đối lập hay trái ngược nhau về nghĩa, nó vừa là biện pháp tổ chức của từ vựng, vừa là biện pháp tổ chức của tư duy [54]. Trong tiếng Việt, quan hệ đối lập này thường phải dựa trên thế tương liên toàn diện về nội dung và hình thức giữa các từ. Tương liên được hiểu là quan hệ hai chiều giữa hai thực thể trên một tiêu chí lô gích một thế lưỡng cực, lưỡng phân.
Hai từ có nghĩa đối lập nhau nhưng không tương liên thì không phải là từ trái nghĩa [54]. Từ bat đôi lập với có, nhưng bất và có không phải là cặp từ trái nghĩa, mà bat trái nghĩa với hữu. Từ nhỏ đôi lập về nghĩa với các từ cd, cái, lớn, đại, mập, cô, uữđại nhưng bé chỉ trái nghĩa với lớn.5 Một số giả thuyết ngữ nghĩa cơ bản 1.1 Giả thuyết ngữ nghĩa thống kê Giả thuyết ngữ nghĩa thống kê (Statistical Semantics Hypothesis) được Weaver [139] đưa ra và sau đó được đề cập đến trong nghiên cứu của Furnas và cộng sự [28].