MỞ ĐẦU Hiện tượng lắng đọng axit bao hàm cho tất cả các loại giáng thủy: mưa, tuyết, mưa tuyết, mưa đá, sương mù…mà bản chất mang tính axit. Bản chất của nước mưa thông thường mang tính axit yếu do CO2 của không khí hòa tan trong nước, nước mưa tinh khiết thường có độ pH khoảng 5,6 – 5,7 [3]. Tuy nhiên thành phần hóa học và pH của nước mưa thường bị biến đổi do khi rơi xuống mặt đất đã mang theo một lượng các chất vết khí và hạt bị rửa trôi (wash out) từ khí quyển. Giá trị pH nước mưa là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường nói chung và mức độ ô nhiễm không khí nói riêng.
Lắng đọng axit lần đầu tiên được ghi nhận ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Nhiều nhà bác học (Robert – Anh 1852, sau đó là Hans Egner – Thụy Điển đầu thế kỷ 20, Oden – Thụy Điển, Gorham – Mỹ) đã nghiên cứu và lên tiếng cảnh tỉnh nhân loại về nguyên nhân và các hậu quả của lắng đọng axit. Cùng với công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa, rất nhiều các tổ chức thế giới đã được thành lập và đưa ra các dự án nghiên cứu về hiện tượng lắng đọng axit. Các nhà khoa học đã chứng minh được rằng các chất gây ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng không khí, đất, nước của khu vực có nguồn phát thải mà nó còn được vận chuyển xa đến các vùng khác theo dòng luân chuyển không khí có khi vượt biển xuyên biên giới sang các nước khác.
Do đây là một vấn đề quan trọng không phải chỉ là của các nước có nguồn phát thải lớn mà của cả các nước xung quanh khu vực. Hiện tượng lắng đọng axit gần đây đã được ghi nhận đáng kể ở một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ. Thành phần hóa học của lắng động axit, đặc biệt là nước mưa có tầm quan trọng lớn để có thể đánh giá được mức độ ô nhiễm không khí vì đây là môi trường tiếp nhận các chất vết khí và hạt tan. Do vậy, hóa học nước mưa đã được nghiên cứu từ những năm 70 ở một vài nước phát triển trên thế giới và trở thành một trong những vấn đề môi trường quan trọng.
1 Nghiên cứu này được thực hiện với nội dung thu thập các mẫu nước mưa lấy tại các trạm quan trắc khu vực miền Bắc, phân tích thành phần hóa học: các anion, cation chính trong mẫu nước mưa sử dụng thiết bị điện di mao quản xách tay loại 2 kênh. Nghiên cứu có mục tiêu: - Đánh giá thành phần hóa học, xác định ảnh hưởng của các ion này đến mức độ axit của nước mưa, xác định nguồn gốc của các ion này. - Chứng minh khả năng sử dụng thiết bị điện di mao quản xách tay hai kênh trong việc phân tích đồng thời nhóm cation và anion sử dụng cho quan trắc môi trường nước. Lắng đọng khí quyển và pH của nước mưa [3,4] 1.
Lắng đọng khí quyển Các chất vết trong khí quyển có nồng độ luôn biến đổi theo thời gian và không gian. Thời gian lưu của chúng có thể một vài giờ, môt vài tuần hoặc một vài năm. Quá trình loại bỏ các chất vết này trong khí quyển hay nói cách khác là quá trình chúng được chuyển từ bầu khí quyển đến bề mặt trái đất được gọi là sự lắng đọng khí quyển. Sự lắng đọng này được chia làm hai loại: lắng đọng khô và lắng đọng ướt.
Lắng đọng khô: Là sự chuyển dịch của các chất vết khí và hạt dưới thời tiết khô tới bề mặt của vật hấp thụ (đất, hệ thực vật và các bề mặt nước) Lắng đọng ướt: Là quá trình vận chuyển, chuyển hóa hóa học của các thành phần khí và hạt tới bề mặt trái đất dưới các hình thức khác nhau như mưa, tuyết, sương mù. Quá trình này rất quan trọng vì các thành phần lý hóa học sau này của lắng đọng ướt phần lớn phụ thuộc vào quá trình này. Quá trình lắng đọng ướt có thể xảy ra theo hai cơ chế: Các vết ở thể khí và hạt được sát nhập vào các đám mây nhỏ, chúng có thể không tan hoặc bị hòa tan trong nước mây. Sau khi bị hấp thụ các chất có thể tham gia vào các phản ứng hóa học không thuận nghịch và các thành phần khác trong pha lỏng.
Chuyển hóa kiểu này thường xảy ra đối với các chất như SO2, NOx chúng có thể bị chuyển hóa không thuận nghịch tạo thành axit hoặc muối, quá trình này được gọi là Rain – out. Các vật chất được hấp thụ trong mây đi theo lắng đọng ướt rơi xuống mặt đất và bị loại bỏ khỏi khí quyển. Các chất vết dưới tầng đám mây bị bắt giữ vào lắng đọng ướt nhờ có sự đông tụ trọng trường do sự khác nhau giữa tốc độ rơi của hạt trong không khí và hạt lắng đọng ướt. 3 Quá trình chuyển dịch ướt của các chất vết khí và hạt bằng sự rơi của lắng đọng ướt dưới tầng đám mây được gọi là Wash – out.
Quá trình làm sạch khí quyển này là rất quan trọng, nhất là những vùng có không khí bị ô nhiễm. Như vậy thành phần hóa học của lắng đọng ướt chịu ảnh hưởng của các thành phần trong khí quyển. Hiện nay người ta đang nghiên cứu xác định mối quan hệ định lượng giữa nồng độ một chất trong khí quyển và trong nước mưa như một hàm số của các điều kiện khí quyển. Hiện tượng lắng đọng axit Độ pH của nước mưa bằng 5,6 ở nhiệt độ 10o C là một giá trị được xem là một giá trị lý tưởng, tính cho nước nguyên chất cân bằng với nồng độ CO2 trong không khí.
Các chất có nguồn gốc tự nhiên có cơ chế phát sinh và tiêu thụ ở thể cân bằng và tương đối. Chu kỳ vận chuyển của các chất trong thành phần không khí, đất và nước trong tự nhiên là tương đối ổn định. Giá trị pH của nước mưa tự nhiên dao động trong khoảng 5 – 7 được coi là ở mức độ bình thường. Nhưng con người trong quá trình cải tạo tự nhiên và trong các hoạt động của mình đã có những tác động vào môi trường gây sự mất ổn định của các chu kỳ vật chất, làm thay đổi thành phần hóa học của đất, nước và đặc biệt là khí.
Nồng độ của các chất khí như NOx, SO2, NH3, hợp chất hữu cơ (CH3COO-, HCOO- …), bụi trong khí quyển… vượt quá xa những giá trị của tự nhiên, làm cho pH của sự lắng đọng khí quyển thay đổi (lớn hơn 6 hoặc nhỏ hơn 5), gây ra những hậu quả nghiêm trọng và phức tạp. Nước mưa có pH < 5 đã được ghi nhận ở nhiều vùng trên thế giới như Tây Âu, Bắc Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản … gây thiệt hại lớn về kinh tế và các công trình văn hóa. Hình dưới đây mô tả một cách đầy đủ sự hình thành mưa axit từ các khí có trong thiên nhiên cũng như từ các quá trình hoạt động của con người gây ra. Sơ đồ quá trình tạo mưa axit Quá trình này diễn ra theo các phản ứng hoá học: a.
Lưu huỳnh: S + O2 → SO2 SO2 + O2 → SO3 SO3 + H2O → H2SO4 b. Nitơ: N2 + O2 → 2NO 2NO + O2 → 2NO2 3NO2(k) + H2O(l) → 2HNO3(l) + NO(k) 5 Axít sunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3 là thành phần gây ra mưa axit 1. Các nguồn gốc gây mưa axit Sự có mặt của SO2 và NOx với hàm lượng lớn trong khí quyển (vượt quá giới hạn cho phép) đang được coi là nguyên nhân chính gây ra mưa axit. Ngoài ra các thành phần khác như NH3, Cl2, CO2… cũng góp phần quyết định tính axit của nước mưa.
Các khí này một phần được sinh ra trong tự nhiên còn phần lớn là phát thải từ các hoạt động của con người. Các axit H2SO4, HNO3 được sinh ra trong khí quyển từ các tiền chất SO2 và NOx là nguyên nhân chính làm giảm pH của nước mưa. Thông thường nước mưa có tính axit cao được tìm thấy ở những vùng bị ảnh hưởng bởi hoạt động của con người. Trong tự nhiên khí SO2 có thể được sinh ra từ quá trình hoạt động của núi lửa.
Đồng thời các lớp rong tảo dưới biển cũng tích tụ một lượng rất lớn các hợp chất sunfua, khí hydrosunfua nên cũng là một trong những nguồn tự nhiên sản sinh ra khí SO2. Một số nghiên cứu của UNEP cho thấy rằng khí SO2 được phát thải từ các nguồn tự nhiên chiếm khoảng một nửa SO2 trong khí quyển lượng này không tăng lên khi mà sunfua trong tự nhiên được tái tạo và sử dụng theo các cơ chế khác nhau. Trong tự nhiên khí NOx được giải phóng từ đất thông qua hoạt động của vi khuẩn và được tạo thành trong không khí khi có sét. Do sự phân tán khí trong tự nhiên nồng độ của chúng được pha loãng và tác động rất ít tới nồng độ trong không khí ở những vùng riêng biệt.
Phần lớn khí SO2 và NOx do con người phát thải vào không khí được tạo ra trong quá trình đốt nhiên liệu. Chủ yếu là dầu thô, xăng, than đá, khí đốt và các sản phẩm dầu mỏ khác. Một lượng nhỏ SO2 được tạo thành trong quá trình đốt quặng có chứa lưu huỳnh và lưu huỳnh nguyên tố để sản xuất axit sunfuric (H2SO4) hoặc do các phản ứng hóa học xảy ra trong quá trình đốt hoặc chưng cất các hợp chất hữu cơ trong công nghệ sản xuất giấy. Khí SO2, SO3, H2SO4 (ở dạng mù) thường thấy trong thành phần của khí lò ở nhiệt độ cao.
Một trong 6 những nguồn đóng góp chính vào việc thải NOx là ống xả của các phương tiện giao thông. Trong số bảy oxit nitơ (N2O, NO, N2O3, N2O4, NO2, NO3, N2O5) chỉ có NO và NO2 được tăng lên từ nhiều hoạt động của con người và được coi là chất gây ô nhiễm. Trong các đánh giá chất lượng môi trường chúng thường được báo cáo là tổng oxit nitơ hoặc NOx. Quá trình điều tra cho thấy năm 1998 số lượng ô tô trên toàn cầu vượt quá 400 tỷ, hơn 1,5 tỷ phương tiện giao thông ngày nay là ở trên đường, nhiều hơn 10 lần so với 1950.
Đặc biệt nguy hại hơn ở các nước nghèo, kém phát triển các phương tiện giao thông thường là cũ được khôi phục lại và sửa chữa lại, chạy quá tải và bảo dưỡng kém. Sự đốt cũng oxi hóa cả các hợp chất chứa nitơ trong nhiên liệu và một phần nitơ tự nhiên tồn tại trong không khí tạo thành ôxit nitơ.