phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở khoa học của xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO. Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3. Phân tích, đánh giá thực trạng đầ u tƣ phát triể n và cung ƣ́ng dịch vụ công cộng đô thị tại Tp Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO.
Thảo luận và kiến nghị. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về dịch vụ công Về khái niệm dịch vụ công.
Khái niệm "dịch vụ công" đƣợc sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Theo quan niệm của nhiều nƣớc, dịch vụ công luôn gắn với vai trò của nhà nƣớc trong việc cung ứng các dịch vụ này. Trên thế giới hiện nay có nhiều cách tiếp cận đối với dịch vụ công, mỗi cách tiếp cận đều có ƣu và nhƣợc điểm riêng, vì thế không có định nghĩa chung nhất nào về dịch vụ công. Trong bối cảnh thực tiễn Việt Nam cùng với hƣớng tiếp cận về bản chất, chức năng và vai trò của nhà nƣớc, có thể đƣa ra khái niệm về dịch vụ công nhƣ sau “dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của ngƣời dân và cộng đồng, bảo đảm ổn định và công bằng xã hội do nhà nƣớc chịu trách nhiệm, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận”.
Từ giác độ chủ thể quản lý nhà nƣớc (QLNN), từ điển Petit Larousse của Pháp xuất bản năm 1992 đã định nghĩa: "dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm". Nhƣ vậy, có nghĩa là dịch vụ công là những hoạt động của cơ quan nhà nƣớc (CQNN) trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc (HCNN) và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội. Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nƣớc đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng. Cách tiếp cận khác xuất phát từ đối tƣợng đƣợc hƣởng hàng hóa công cộng cho rằng đặc trƣng chủ yếu của dịch vụ công là hoạt động 5 z đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động ấy có thể do nhà nƣớc hoặc tƣ nhân đảm nhiệm.
Còn theo World Bank, World Development Report (1997), khu vực công cốt lõi bao gồm các dịch vụ (chủ yếu là hàng hóa và dịch vụ công thuần túy – pure public goods and services) mà chính phủ là ngƣời duy nhất cung cấp và mọi công dân bắt buộc phải nhận khi có nhu cầu về chúng. Chính phủ cung cấp các loại dịch vụ này dựa trên cơ sở pháp lý và nguyên tắc quản lý nhà nƣớc cơ bản. Có thể liệt kê một số dịch vụ đó nhƣ: pháp luật, an ninh, quốc phòng, các nguồn phúc lợi xã hội, môi trƣờng và phòng dịch, cấp giấy sở hữu (tài sản, nhà đất), giấy tờ tùy thân (hộ chiếu, visa, chứng minh thƣ), giấy chứng nhận (khai sinh, khai tử, hôn thú), đăng ký thành lập (doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức)… Khu vực công mở rộng bao gồm các dịch vụ công (chủ yếu là hàng hóa và dịch vụ công không thuần khiết- impure) mà ngƣời tham gia cung cấp có thể là nhà nƣớc và nhiều tổ chức khác (tƣ nhân, các tổ chức xã hội, cộng đồng). Sự cung cấp các loại dịch vụ này rất linh hoạt, tùy thuộc vào nhu cầu ngƣời tiêu dùng, không mang tính độc quyền và có thể miễn phí hoặc trả phí.
Đó là các dịch vụ nhƣ: y tế, giáo dục, giao thông đô thị, thông tin, cơ sở hạ tầng,… Theo GS Trần Ngọc Hiên trong bài: Xã hội hóa dịch vụ công: Quan điểm tiếp cận và kinh nghiệm từ một số nước, đăng trên Tạp chí Cộng sản số tháng 6/2012, thì tiếp cận vấn đề "dịch vụ công" “xã hội hóa” nó hiện có nhiều quan niệm. Ở các nƣớc châu Âu thì: "dịch vụ công là các hoạt động vì lợi ích chung của xã hội, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm". Trong nền kinh tế thị trƣờng, các lợi ích chung mà dịch vụ công đem lại thể hiện dƣới hình thức hàng hóa công cộng. Đó là loại hàng hóa mà mọi ngƣời đều có thể sử dụng, là loại hàng hóa mà việc tiêu dùng của ngƣời này không làm giảm lƣợng tiêu dùng của ngƣời khác và nó vẫn tồn tại khi không tiêu dùng.
Khái niệm dịch vụ công nói trên đƣợc dùng khá phổ biến ở nhiều nƣớc châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ 6 z hai. Dịch vụ công có nhiều loại, từ y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo cho đến an ninh, bảo trợ xã hội. Khi kinh tế và đời sống xã hội càng phát triển thì dịch vụ công càng phát triển thêm nhiều loại mới với những phƣơng thức cung cấp mới. Khi định nghĩa về dịch vụ công, Phạm Quang Lê trong cuốn sách “Dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (Chu văn Thành chủ biên.
Nhà XB Chính trị quốc gia.2004) thì dịch vụ vụ công đƣợc cho là: “những hoạt động của các tổ chức nhà nƣớc hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tƣ nhân đƣợc Nhà nƣớc uỷ quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi; đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội ”, và cho rằng dịch vụ công bao gồm dịch vụ sự nghiệp công (hoặc phúc lợi công cộng ), dịch vụ công ích và dịch vụ hành chính công, đồng thời nhấn mạnh là không đƣợc lẫn lộn với hoạt động công vụ (civil services) là hoạt động hàng ngày của bộ máy công quyền. Theo Ông Lê, dịch vụ công ích là các hoạt động có tính chất kinh tế hàng hoá do các doanh nghiệp công ích thực hiện theo yêu cầu của Nhà nƣớc, không nhằm mục tiêu lợi nhuận để phục vụ nhân dân nhƣ cung cấp điện, nƣớc, kết cấu hạ tầng, vệ sinh môi trƣờng, phòng chống các dịch bệnh, vận tải công cộng, khuyến nông… Cũng liên quan đến khái niệm dịch vụ công, tác giả Hƣơng Ngọc (2013) lại cho rằng: Dịch vụ công là những hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nƣớc can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng. Theo đó, dịch vụ công là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện những chức năng vốn có của Chính phủ, bao gồm từ các hoạt động ban hành chính sách, pháp luật, Tòa án…cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng. Dịch vụ công còn đƣợc hiểu là những hàng hóa dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả, công bằng.
7 z Bên cạnh đó, từ dịch vụ công còn có một định nghĩa khác theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003) là: dịch vụ thiết yếu đối với đời sống, kinh tế, xã hội của đất nƣớc, cộng đồng dân cƣ của một khu vực lãnh thổ hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh mà việc sản xuất, cung cấp theo cơ chế thị trƣờng thì khó có khả năng bù đắp chi phí đối với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ này, do đó đƣợc Nhà nƣớc đặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nƣớc quy định. Cách định nghĩa này đƣợc các nhà làm chính sách nƣớc ta đƣa ra chỉ để tiện cho việc chi tiêu Ngân sách nhƣng lại không hội nhập với thông lệ quốc tế. Khái niệm và phạm vi dịch vụ công có sự biến đổi tùy thuộc vào bối cảnh của mỗi quốc gia. Chẳng hạn, ở Canada, có tới 34 loại hoạt động đƣợc coi là dịch vụ công, từ quốc phòng, an ninh, pháp chế, đến các chính sách kinh tế xã hội (KT-XH) (nhƣ tạo việc làm, quy hoạch, bảo vệ môi trƣờng, và các hoạt động y tế, giáo dục, văn hoá, bảo hiểm xã hội,.
Trong khi đó, Pháp và Italia đều quan niệm dịch vụ công là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của ngƣời dân do các CQNN đảm nhiệm hoặc do các tổ chức tƣ nhân thực hiện theo những tiêu chuẩn, quy định của nhà nƣớc. Tuy vậy, ở mỗi nƣớc lại có nhận thức khác nhau về phạm vi của dịch vụ công. Ở Pháp, khái niệm dịch vụ công đƣợc hiểu rộng, bao gồm không chỉ các hoạt động phục vụ nhu cầu về tinh thần và sức khoẻ của ngƣời dân (nhƣ giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao… thƣờng đƣợc gọi là hoạt động sự nghiệp), các hoạt động phục vụ đời sống dân cƣ mang tính công nghiệp (điện, nƣớc, giao thông công cộng, vệ sinh môi trƣờng,. thƣờng đƣợc gọi là hoạt động công ích), hay các dịch vụ hành chính công, bao gồm hoạt động của cơ quan hành chính về cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch,… mà cả hoạt động thuế vụ, trật tự, an ninh, quốc phòng… còn ở Italia dịch vụ công đƣợc giới hạn chủ yếu ở hoạt động sự nghiệp (y tế, giáo dục) và hoạt động kinh tế công ích (điện, nƣớc sạch, vệ sinh môi trƣờng) và các hoạt động cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch do cơ quan hành chính thực hiện.
8 z Ở Việt Nam, tập trung nhiều hơn vào chức năng phục vụ xã hội của Nhà nƣớc, mà không bao gồm các chức năng công quyền, nhƣ lập pháp, hành pháp, tƣ pháp, ngoại giao,. qua đó nhấn mạnh vai trò chủ thể của Nhà nƣớc trong việc cung cấp các dịch vụ cho cộng đồng. Điều quan trọng là chúng ta phải sớm tách hoạt động dịch vụ công (lâu nay gọi là hoạt động sự nghiệp) ra khỏi hoạt động hành chính công quyền nhƣ chủ trƣơng của Chính phủ đã đề ra, nhằm xoá bỏ cơ chế bao cấp, giảm tải cho bộ máy nhà nƣớc, khai thác mọi nguồn lực tiềm tàng trong xã hội và nâng cao chất lƣợng của dịch vụ công phục vụ ngƣời dân. Điều 22 của Luật Tổ chức Chính phủ (2001) quy định: "Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng QLNN đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nƣớc; QLNN các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực;.