MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong thời gian vừa qua, nền kinh tế thế giới đã chứng kiến sự suy thoái ở nhiều nền kinh tế trên thế giới. Tỷ lệ nợ công Hy Lạp, tình hình thất nghiệp tại Tây Ban Nha…ngày càng nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính của thế giới đã có ảnh hƣởng, tác động xấu đến nền kinh tế toàn cầu, trong đó có cả các định chế tài chính, ngân hàng tƣởng nhƣ không thể bị ảnh hƣởng nhƣ UniCredit, AIG, Merrill Lynch, Citi Group,.
Tháng 12 năm 2008, thế giới tài chính toàn cầu sửng sốt khi nghe tin Lehmon Brother, một trong những NH hàng đầu của Mỹ tuyên bố phá sản và nhiều ngân hàng khác tại Mỹ cũng lâm vào cảnh phá sản hoặc bị mua bán sáp nhập để tồn tại trong những năm qua. Điều này đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế tệ hại nhất kể từ cuộc đại suy thoái trong thập niên 30 của thế kỷ 19. Không nằm ngoài vòng xoáy của sự suy thoái nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng chứng kiến sự phá sản, giải thể của nhiều Doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực khác nhau, số liệu tồn kho hàng hóa tăng cao, tỷ lệ thất nghiệp tăng. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch- Đầu tƣ thì trong năm 2012, đã có 54.261 doanh nghiệp giải thể, phá sản[21].
Việc bảo tồn, duy trì sự hoạt động của các Doanh nghiệp trong thời điểm này là hết sức khó khăn. Trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, bảo toàn vốn là yếu tố có ý nghĩa quyết định sống còn đến sự hình thành và phát triển lâu dài của ngân hàng. Ở Việt Nam hiện nay có thể thấy, hệ thống NHTM Việt Nam đang phát triển mạnh cả về quy mô và chất lƣợng hoạt động, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp công nghiệp, hóa hiện đại hóa đất nƣớc. Song, cũng nhƣ các chủ thể kinh tế khác, các doanh nghiệp của ngành ngân hàng cũng đang đứng trƣớc những cơ hội và thách thức to lớn của quá trình hội nhập.
Thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam cho thấy, năng lực cạnh tranh khi bƣớc vào hội nhập kinh tế quốc tế còn rất nhiều yếu kém. Biểu hiện quan trọng và nổi bật là vốn tự có của các NHTM Việt Nam đều nhỏ bé và cơ cấu chƣa hợp lý so với các NH tiên tiến trong khu vực và thế giới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Duy trì quy mô vốn tự có hợp lý, đảm bảo khả năng tăng trƣởng vốn tự có mạnh mẽ phù hợp với chiến lƣợc phát triển có ảnh hƣởng rất lớn đến năng lực tài chính của ngân hàng. Nói khác đi, khi vốn tự có của ngân hàng đƣợc quản lý hữu hiệu theo công nghệ hiện đại bằng những tiêu chuẩn an toàn tiên tiến, năng lực tài chính của ngân hàng sẽ đƣợc nhân lên nhiều lần.
Thời gian qua nhiều NH ở Việt Nam đã sáp nhập nhƣ NHTMCP Sài Gòn (SCB), NH Việt Nam Tín Nghĩa, NH Nhà Hà Nội (Habubank), hoặc thay đổi cơ cấu cổ đông và đổi tên từ NH Đại Tín (Trust Bank) thành NH Xây Dựng Việt Nam (Vietnam Construction Bank)…và sắp tới sẽ có một số NH đang xem xét để sáp nhập nhƣ HDBank và DaiABank. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do việc quản lý vốn tự có tại các ngân hàng không hiệu quả, không bền vững dẫn đến mất khả năng chi trả, không mang lại lợi nhuận cho ngân hàng và mất khả năng điều chỉnh các giới hạn hoạt động của ngân hàng nhằm bảo đảm an toàn cho các ngân hàng trong kinh doanh gây ra nhiều ro. Đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực vốn tự có nhƣ “Đổi mới quản lý vốn tự có tạo môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh cho các NHTMCP TPHCM”[7] hay “Biện pháp gia tăng vốn tự có của các NHTMCP tại Việt Nam”[8].tuy nhiên những đề tài này nghiên cứu trên phạm vi rộng, thời gian cũng đã khá xa và tình hình biến động nhanh trên thị trƣờng tiền tệ nhƣ hiện nay, đồng thời từ năm 2010 đã có nhiều thay đổi về chính sách của Nhà nƣớc nhƣ: Thông tƣ 13/2010/TT-NHNN “Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD” hay Luật các TCTD năm 2010. Nhận thấy sự cần thiết phải nghiên cứu việc quản lý vốn tự có tại một ngân hàng trong thời điểm có nhiều biến đổi hiện nay, học viên chọn đề tài “Vốn tự có tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Đông” để tìm hiểu thực tế việc quản lý vốn tự có tại một ngân hàng cụ thể, qua đó rút ra các nhận xét cũng nhƣ kiến nghị một số giải pháp nhằm quản lý vốn tự có trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt giữa các NH.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục tiêu nghiên cứu: 2. Mục tiêu tổng quát : Nghiên cứu về vốn tự có của OCB để thấy đƣợc hiệu quả của việc quản lý vốn tự có trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, bên cạnh đó thấy đƣợc những ƣu điểm và hạn chế trong việc quản lý vốn tự có từ đó đƣa ra những giải pháp, đề xuất nhằm quản lý tốt hơn vốn tự có tại OCB. Mục tiêu cụ thể : 2.
Nắm bắt đƣợc cơ sở lý thuyết về vốn tự có của NHTM nói chung. Hiểu đƣợc hoạch định nhu cầu vốn của ngân hàng. Nghiên cứu và phân tích thực trạng quản lý nguồn vốn tự có của các NHTMCP nói chung và của OCB nói riêng trên cơ sở đƣa ra những ƣu điểm và hạn chế trong kết quả đạt đƣợc, phân tích các nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế công tác quản lý vốn tự có tại OCB. Đƣa ra giải pháp, đề xuất góp phần nâng cao quản lý vốn tự có tại OCB.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là xem xét công tác quản lý vốn tự có của OCB trong giai đoạn năm 2010 đến 2012, đánh giá đƣợc hiệu quả của việc quản lý Vốn tự có tại OCB, đƣa ra những mặt đƣợc và chƣa đƣợc để đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm quản lý vốn tự có. Phƣơng pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài, học viên đã sử dụng phƣơng pháp so sánh phân tích, phƣơng pháp thống kê kết hợp với các lý luận khoa học để làm rõ và xác định đƣợc bản chất vấn đề cần nghiên cứu, từ đó đƣa ra các đề xuất, giải pháp để giải quyết vấn đề. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu: Luận văn đã nghiên cứu những vấn đề vốn tự có của các NHTM nói chung và OCB nói riêng. Qua đó, luận văn phân tích thực trạng, nêu lên những nguyên nhân làm hạn chế quản lý vốn tự có của OCB.
Dựa trên lý luận khoa học, tƣ duy của nhiều nhà kinh tế cùng với những nghiên cứu của bản thân để có thể đƣa ra các giải LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp đề xuất giúp cho OCB nâng cao quản trị nguồn vốn tự có, qua đó khẳng định vị thế của mình trong thời kỳ phát triển, hội nhập. Kết cấu của luận văn: Bố cục luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vốn tự có của NHTM. - Chƣơng 2: Thực trạng nguồn vốn tự có của OCB - Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm nâng cao quản lý vốn tự có của OCB. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN TỰ CÓ CỦA NHTM 1.
Vốn tự có của NHTM 1. Khái niệm và vai trò của NHTM 1.1 Khái niệm Cho đến thời điểm hiện nay, có nhiều khái niệm về NHTM: Ở Mỹ: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán- và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ các tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”[13]. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “NHTM là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”[18]. Ở Việt Nam, theo khoản 2, khoản 3 Điều 4 Luật TCTD 2010 đã xác định “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”, trong đó “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”[14] Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Nhƣ vậy, có thể nói rằng NHTM là một loại định chế tài chính trung gian cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rãi rác trong xã hội sẽ đƣợc huy động, tập LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 trung lại với số lƣợng đủ lớn để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.2 Vai trò của NHTM Vai trò trung gian: Vai trò này thể hiện thông qua 3 chức năng sau: Trung gian tín dụng: NHTM là cầu nối giữa những ngƣời có vốn dƣ thừa và những ngƣời có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động khai thác các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Với chức năng này, ngân hàng vừa đóng vai trò là chủ thể đi vay, vừa đóng vai trò là chủ thể cho vay. Xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã hội, NHTM với vai trò là tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, nắm bắt tình hình cung cầu về vốn tín dụng sẽ thực hiện tiếp nhận và chuyển giao vốn một cách có hiệu quả. Thông qua việc thu hút tiền gửi với khối lƣợng lớn, ngân hàng có thể giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu vốn tín dụng về khối lƣợng và cả thời gian tín dụng[15].