Tổng quan luận án
Hiến pháp là đạo luật cơ bản, văn kiện chính trị - pháp lý có hiệu lực cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quy định nền tảng tổ chức và phân chia quyền lực nhà nước, trong đó có vị trí của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND). Trải qua tiến trình lịch sử 60 năm hình thành và phát triển (tính đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu năm 2020), các quy định về vị trí, tính chất, chức năng và cơ cấu tổ chức của VKSND luôn gắn liền với các bản Hiến pháp. Trong bối cảnh đổi mới toàn diện, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp theo các văn kiện của Đảng như Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị, tổ chức và hoạt động của VKSND đứng trước nhiều yêu cầu đổi mới. Đặc biệt, sau khi Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014 được ban hành, nhận thức về chế định này tiếp tục có những bước phát triển mới. Tuy nhiên, cả trên bình diện lý luận và thực tiễn vẫn tồn tại nhiều tranh luận khoa học xoay quanh việc duy trì mô hình Viện kiểm sát hay chuyển sang mô hình Viện công tố, việc xác định phạm vi chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, cũng như cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần có một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện và xuyên suốt về chế định VKSND qua toàn bộ lịch sử lập hiến Việt Nam nhằm xác lập luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện chế định này.
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác lập luận cứ khoa học đối với chế định VKSND, qua đó luận giải về sự tồn tại và thay đổi của chế định này trong Hiến pháp Việt Nam, góp phần xây dựng, phát triển chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam; đồng thời đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình hiện nay ở nước ta nhằm bảo đảm thực hiện và hoàn thiện các quy phạm trong chế định VKSND của Hiến pháp năm 2013 và các quy định trong Luật Tổ chức VKSND năm 2014.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung chính được xác định như sau:
- Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, trong đó tập trung tìm hiểu, đánh giá tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước, cũng như những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, những nội dung mới luận án cần giải quyết.
- Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về chế định Viện công tố/VKSND như khái niệm, đặc điểm; cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định cũng như các yếu tố tác động đến chế định này; vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa VKSND với một số thiết chế trong Hiến pháp Việt Nam; nội dung của chế định VKSND về cơ cấu tổ chức, nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chức năng nhiệm vụ và chế độ báo cáo công tác, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu.
- Nghiên cứu các quy định và thực trạng thực hiện pháp luật về Viện công tố theo Hiến pháp năm 1946, các quy định và thực trạng thực hiện chế định VKSND trong Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 (sửa đổi năm 2001) và đặc biệt là trong Hiến pháp năm 2013, từ đó đánh giá thực trạng chế định này, đồng thời chỉ ra sự vận động của VKSND qua các bản Hiến pháp; trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chế định VKSND trong Hiến pháp hiện hành Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận, nội dung và các vấn đề liên quan của chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam; thực trạng pháp luật và quá trình thực hiện chế định VKSND trong các bản Hiến pháp Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013.
Phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Về không gian và nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu, phân tích các nội dung cơ bản của chế định Viện công tố/VKSND trong khuôn khổ hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam, đặt trong mối quan hệ với các thiết chế Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân (TAND) và chính quyền địa phương (Hội đồng nhân dân - HĐND, Ủy ban nhân dân - UBND).
- Về thời gian: Khảo sát tiến trình lịch sử lập hiến từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đến Hiến pháp năm 2013 và các văn bản luật tổ chức liên quan cho đến thời điểm nghiên cứu (năm 2020).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan khối lượng lớn các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp và gián tiếp đến tổ chức, hoạt động của cơ quan công tố và viện kiểm sát:
Nhóm các công trình nghiên cứu trong nước:
- Nhóm nghiên cứu về lý luận của chế định VKSND: Tác giả Phạm Hồng Hải (1999, 2003, 2006) với các bài viết về quan niệm cơ quan tư pháp, quyền công tố và đổi mới mô hình tổ chức VKSND; tác giả Lê Cảm (1999) nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố; tác giả Nguyễn Thái Phúc (1999, 2007, 2008, 2012) phân tích quyền công tố, nghiên cứu chuyển đổi hoặc không chuyển đổi VKSND thành Viện công tố; tác giả Trần Văn Độ (2003) và Nguyễn Tất Viễn (2003) luận giải về hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tư pháp; tác giả Thái Vĩnh Thắng (2007) nghiên cứu mô hình tổ chức Viện công tố; các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Lê Hữu Thể làm chủ nhiệm (1999, 2004, 2008, 2010, 2012) về quyền công tố, kiểm sát tuân theo pháp luật và xây dựng mô hình tổ chức VKS theo yêu cầu cải cách tư pháp; luận án của Khuất Văn Nga (1993) về vị trí, vai trò của VKSND trong bộ máy nhà nước XHCN; cùng các nghiên cứu của Trịnh Phương Thảo (2017), Trần Thái Dương (1994), Ngô Thái Hoà (2015), Lại Hợp Việt (2014), Lê Ngọc Duy (2015), Phí Thành Chung (2017), Nguyễn Đức Bình (2014), Nguyễn Đình Lộc (1995).
- Nhóm nghiên cứu về nội dung của chế định VKSND: Các công trình của Đào Trí Úc (2012) về sửa đổi quy định hiến định về VKSND; Nguyễn Thị Thủy (2013) về nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo; Vũ Việt Hùng (2012) về sự hình thành VKSND giai đoạn 1960-1965; Nguyễn Sơn Hà (2014) và Hoàng Thị Quỳnh Chi (2014) về chức năng, nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh trong dự thảo Luật Tổ chức VKSND; Nguyễn Hoà Bình (2012, 2014) về định hướng xây dựng luật tổ chức và triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013; Ngô Hùng Thái (2015, 2017) về sự phát triển của chế định VKSND theo Hiến pháp năm 2013 và mối quan hệ giữa Quốc hội với VKSND qua các bản Hiến pháp; cùng các bài viết của Hà Mạnh Trí (1992), Lê Dân Khiết (2012), Lại Thị Thu Hà (2012), Hồ Đức Anh (2012), Phạm Hoàng Diệu Linh (2014), Công Vinh (2015), Nguyễn Trường An (1987), nhóm tác giả Nguyễn Tiến Sơn, Vũ Duy Hoà, Nguyễn Hữu Hậu, Bùi Quang Dương (2013).
- Nhóm nghiên cứu về thực trạng thực hiện chế định VKSND: Sách chuyên khảo "Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác của Viện kiểm sát nhân dân qua 55 năm tổ chức và hoạt động" của VKSND tối cao (2015); sách chuyên khảo "Lịch sử Viện kiểm sát Việt Nam" của Trịnh Nhu (2010); các bài viết của Nguyễn Văn Thìn (1992), Bùi Mạnh Cường (2013), Lê Đức Xuân và Phạm Lan Phương (2013), Nguyễn Nông (2014), Hoàng Thị Kim Quế (2014), Ba Sơ Cốp (1983), Võ Văn Thành (1987).
- Nhóm nghiên cứu VKSND trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN: Các công trình của Đào Trí Úc (2012), Nguyễn Đăng Dung (2007, 2014), Nguyễn Đình Lộc (2008), Phạm Mạnh Hùng (2010), Đỗ Văn Đương (2011), Trần Văn Nam (2017), Lê Văn Cảm (2012), Bùi Ngọc Sơn (2009).
Nhóm các công trình nghiên cứu ngoài nước:
- Nghiên cứu lý luận chung: Sách chuyên khảo của Boris Vasilievich Korobeynikov và Vladimir Ivanovich Baskov (Liên bang Nga, 2000) về hoạt động kiểm tra giám sát của Viện kiểm sát; sách "Luật Tổ chức Viện kiểm sát Liên bang Nga" do Bùi Quang Thạch dịch (2007); công trình nghiên cứu pháp lý Bang Hessische (Đức, 1990) về quyền công tố trong cơ cấu hành chính - chính trị; công trình của Eistaat Hennann (Đức, 1990); sách "Cải cách tư pháp tại Trung Quốc" của Văn phòng thông tin Hội đồng Nhà nước Trung Quốc (2012); giáo trình của Long Tông Trí (Trung Quốc, 2002); các bài viết về tư pháp độc lập của Philippa Strum (2012) và Sandra Day O'Connor (2012).
- Nghiên cứu nội dung chế định Viện kiểm sát/Viện công tố: Nghiên cứu của Theodore Parnall (1999) về hệ thống công tố Hoa Kỳ; công trình của Xavitxki V. về tổ chức quyền tư pháp và VKS Liên bang Nga; bài dịch Luật Tổ chức VKSND Trung Quốc (1993); giáo trình "Công tác kiểm sát" tập II của Long Tông Trí (2002); bài viết của Kazuno - Sakakibara (Nhật Bản, 2000) về đặc trưng chế độ kiểm sát tại Nhật Bản; luận văn của Nouanthong SengnouThong (Lào, 2016); luận án của Shagivaliev Amir Kaiumovich (Kyrgyzstan, 2002).
Khoảng trống nghiên cứu: Mặc dù các công trình tiền nhiệm đã nghiên cứu nhiều góc độ về quyền công tố, kiểm sát tuân theo pháp luật hoặc lịch sử hoạt động của ngành kiểm sát, song chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể, có hệ thống và toàn diện về sự hình thành, phát triển và biến đổi của chế định VKSND xuyên suốt qua tất cả các bản Hiến pháp trong lịch sử lập hiến Việt Nam. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc tiếp cận tổng thể từ góc độ luật hiến pháp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 48-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Về khung lý thuyết, tác giả phân tích và so sánh hai trường phái lý luận và mô hình tổ chức cơ quan công tố/kiểm sát trên thế giới:
- Trường phái lý luận và mô hình Viện công tố: Hình thành dựa trên học thuyết Tam quyền phân lập tại các nhà nước tư sản (điển hình như Pháp từ năm 1302, Hoa Kỳ, Đức). Cơ quan công tố chủ yếu thực hiện chức năng công tố, truy cứu trách nhiệm hình sự nhân danh nhà nước, trực thuộc nhánh hành pháp (Bộ Tư pháp) hoặc nằm trong hệ thống Tòa án; không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật chung ngoài lĩnh vực tố tụng hình sự.
- Trường phái lý luận và mô hình Viện kiểm sát: Hình thành từ tư tưởng của V.I. Lênin trong tác phẩm "Bàn về chế độ trực thuộc song trùng và pháp chế" (năm 1922 tại Liên Xô), được áp dụng ở các nước XHCN và một số nước chuyển đổi (Nga, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba). Mô hình này tổ chức hệ thống cơ quan độc lập với chính quyền địa phương theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo, thực hiện đồng thời chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm pháp chế được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
Luận án là công trình nghiên cứu định tính, áp dụng phương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành và xuyên ngành luật học, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp hệ thống hóa: Phân loại, xâu chuỗi các công trình nghiên cứu lý luận, các nguồn văn bản pháp luật và văn kiện qua các giai đoạn.
- Phương pháp lịch sử: Phân tích sự ra đời, tồn tại và chuyển hóa của thiết chế Viện công tố (1945-1959) sang VKSND (từ 1959 đến nay) gắn với hoàn cảnh lịch sử từng giai đoạn cách mạng.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò hiến định của VKSND và mối quan hệ giữa VKSND với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước.
- Phương pháp luật học so sánh: So sánh các quy định hiến định về VKSND qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013; đồng thời so sánh với mô hình tổ chức Viện công tố/Viện kiểm sát của Liên bang Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Hungary, Lào, Kyrgyzstan.
- Phương pháp thống kê: Khảo sát và tổng hợp các số liệu thực tiễn hoạt động từ các báo cáo chính thức của VKSND tối cao và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Phương pháp phân tích - dự báo khoa học: Phân tích xu hướng phát triển của nền tư pháp để đề xuất các giải pháp lập hiến và lập pháp.
Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm các bản Hiến pháp Việt Nam; các đạo Luật Tổ chức VKSND năm 1960, 1981, 1992, 2002, 2014; các đạo luật tố tụng; các nghị quyết của Đảng; báo cáo tổng kết ngành kiểm sát; kỷ yếu hội thảo khoa học và tài liệu pháp luật nước ngoài.
Bảng tổng hợp so sánh hai mô hình lý luận về cơ quan công tố và kiểm sát:
| Tiêu chí so sánh | Trường phái / Mô hình Viện công tố | Trường phái / Mô hình Viện kiểm sát |
|---|---|---|
| Cơ sở lý luận | Học thuyết Tam quyền phân lập tại các nhà nước tư sản | Chủ nghĩa Mác - Lênin ("Bàn về chế độ trực thuộc song trùng và pháp chế") |
| Vị trí trong bộ máy | Thuộc nhánh hành pháp (Bộ Tư pháp) hoặc gắn với hệ thống Tòa án | Thiết chế hiến định độc lập, do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thành lập |
| Chức năng chủ đạo | Thực hành quyền công tố, truy cứu trách nhiệm hình sự trước Tòa án | Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật / kiểm sát hoạt động tư pháp |
| Nguyên tắc tổ chức | Chịu sự quản lý hành chính tư pháp của Bộ trưởng Bộ Tư pháp | Tập trung thống nhất lãnh đạo trong toàn ngành, không song trùng trực thuộc địa phương |
| Phạm vi giám sát | Rất hạn chế, chủ yếu trong quan hệ với cơ quan điều tra hình sự | Kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động tư pháp (từng gồm kiểm sát chung) |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 phân loại và phân tích hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành các nhóm chuyên đề cụ thể. Về nghiên cứu trong nước, tác giả điểm lại các công trình theo 4 lát cắt: lý luận về chế định VKSND, nội dung của chế định VKSND, thực trạng thực hiện chế định, và VKSND trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Về nghiên cứu ngoài nước, tác giả khảo cứu tài liệu chuyên khảo, giáo trình và bài viết khoa học từ Liên bang Nga, Trung Quốc, Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Lào, Kyrgyzstan. Từ việc tổng hợp này, chương 1 rút ra các giá trị khoa học kế thừa, chỉ rõ những hạn chế và khoảng trống của các nghiên cứu trước đây, đồng thời xác lập câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu của luận án.
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Chương 2 luận giải toàn diện các vấn đề lý luận về chế định VKSND, tập trung vào 5 luận điểm về bản chất của chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam:
- Thiết chế hiến định đặc thù xuất phát từ mô hình tổ chức quyền lực nhà nước Việt Nam: Trong điều kiện tổ chức quyền lực tập quyền XHCN (quyền lực tập trung vào Quốc hội, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát), VKSND là thiết chế giám sát độc lập, chuyên nghiệp giúp Quốc hội thực hiện kiểm soát quyền lực đối với quyền tư pháp.
- Sự hiến định hóa ý chí của Đảng và nhân dân về quyền công tố: Thể hiện sự phân định giữa quyền công tố của nhà nước và quyền tự tố của cá nhân nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
- Sự thể chế hóa tổng hợp các yếu tố chính trị, pháp lý, kinh tế - xã hội: Sự thay đổi mô hình (Viện công tố sang VKSND) và phạm vi chức năng (từ kiểm sát chung sang kiểm sát hoạt động tư pháp) phản ánh yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng.
- Thể chế bảo đảm pháp luật XHCN được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất: Áp dụng tư tưởng Lênin về việc khắc phục chủ nghĩa cục bộ địa phương, bản vị, bảo đảm pháp chế thông suốt toàn quốc thông qua nguyên tắc tập trung thống nhất, không song trùng trực thuộc.
- Thể chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân, công lý và tính thượng tôn pháp luật: Đáp ứng các yêu cầu bảo vệ quyền con người theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW và Hiến pháp năm 2013.
Chương 2 cũng phân tích cấu trúc nội dung của chế định VKSND (cơ cấu tổ chức, nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo kết hợp độc lập của kiểm sát viên, chức năng nhiệm vụ, chế độ báo cáo công tác, trả lời chất vấn) và mối quan hệ hiến định giữa VKSND với Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, TAND và chính quyền địa phương.
Chương 3: THỰC TRẠNG CHẾ ĐỊNH VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM
Chương 3 khảo sát thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành chế định VKSND qua từng giai đoạn lập hiến:
- Giai đoạn Hiến pháp năm 1946: Tồn tại mô hình Viện công tố thuộc hệ thống Tòa án; đến năm 1959, Nghị định số 256-TTg ngày 01/7/1959 bước đầu giao thẩm quyền giám sát tư pháp cho cơ quan công tố.
- Giai đoạn Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980: Chuyển đổi chính thức sang mô hình VKSND với hai chức năng hiến định cơ bản: thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật (chức năng kiểm sát chung) trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước và đời sống xã hội.
- Giai đoạn Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001): Điều chỉnh chức năng của VKSND. Từ ngày 29/01/2002, chức năng kiểm sát chung được bãi bỏ, phạm vi kiểm sát được thu hẹp trong lĩnh vực hoạt động tư pháp (kiểm sát hoạt động tư pháp) kết hợp với thực hành quyền công tố.
- Giai đoạn Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014: Khẳng định VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Chương 3 chỉ ra các thành tựu đạt được và phân tích những bất cập trong các quy định hiến định hiện hành cũng như trong thực tiễn thi hành về phân định thẩm quyền, cơ chế kiểm soát quyền lực và chế độ bổ nhiệm cán bộ kiểm sát.
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM
Chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện chế định VKSND:
- Hệ quan điểm: Quán triệt đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và cải cách tư pháp của Đảng; khẳng định tính tất yếu khách quan của việc tiếp tục duy trì và củng cố mô hình VKSND (bác bỏ quan điểm chuyển đổi thành Viện công tố đơn thuần); bảo đảm tính độc lập và tập trung thống nhất của hệ thống cơ quan kiểm sát.
- Giải pháp lập hiến và lập pháp: Sửa đổi, bổ sung các quy phạm trong Hiến pháp và Luật Tổ chức VKSND năm 2014 nhằm minh định rõ hơn vị trí của VKSND trong cấu trúc quyền lực tư pháp; quy định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm của Viện trưởng VKSND tối cao trước Quốc hội; hoàn thiện cơ chế phối hợp và chế ước giữa VKSND với Cơ quan điều tra và TAND.
- Giải pháp bảo đảm thực hiện: Hoàn thiện nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo gắn liền với việc mở rộng tính chủ động, độc lập chịu trách nhiệm của Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kiểm sát; hoàn thiện cơ chế đánh giá công vụ và tăng cường cơ sở vật chất, chế độ đãi ngộ cho ngành kiểm sát.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án nêu rõ những đóng góp khoa học và thực tiễn:
- Đóng góp về lý luận:
- Luận giải các đặc điểm đặc thù và xây dựng khái niệm khoa học về chế định VKSND trong Hiến pháp Việt Nam.
- Làm rõ một cách có hệ thống tương quan và mối quan hệ hiến định giữa VKSND với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước (Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, TAND, HĐND và UBND).
- Bổ sung cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của chế định VKSND trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chứng minh tính phù hợp của mô hình Viện kiểm sát so với mô hình Viện công tố trong bối cảnh thể chế chính trị nước ta.
- Đóng góp về thực tiễn và hoàn thiện pháp luật:
- Hệ thống hóa và so sánh toàn diện nội dung của chế định VKSND qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013.
- Đánh giá khách quan thực trạng thi hành các quy phạm hiến định về VKSND, chỉ ra các vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn tư pháp.
- Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm thực hiện và hoàn thiện chế định VKSND trong Hiến pháp hiện hành và Luật Tổ chức VKSND năm 2014, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chủ yếu tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, tập trung vào các quy phạm hiến định, văn bản luật tổ chức và các báo cáo tổng kết công tác ngành kiểm sát qua các thời kỳ lập hiến tại Việt Nam. Việc khảo sát pháp luật nước ngoài chủ yếu tập trung vào so sánh mô hình lý luận và kinh nghiệm điển hình, chưa đi sâu vào từng quy trình tố tụng chuyên biệt của từng quốc gia.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu chuyên sâu cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp giữa VKSND và các cơ quan tiến hành tố tụng khác (Cơ quan điều tra, Tòa án, Cơ quan thi hành án) trong từng lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự, hành chính.
- Nghiên cứu hoàn thiện quy chế pháp lý và các bảo đảm độc lập chuyên môn cho chức danh Kiểm sát viên trong bối cảnh tranh tụng tư pháp.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên tại các cơ sở đào tạo luật (ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Tố tụng hình sự, Tư pháp học).
- Cơ quan lập hiến, cơ quan lập pháp, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương và các nhà hoạch định chính sách trong việc sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước.
- Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, Kiểm sát viên, Thẩm phán và công chức làm việc trong hệ thống VKSND, TAND và các cơ quan tư pháp.
- Nội dung có giá trị tham khảo trọng tâm:
- Khung phân tích lý luận đối chiếu giữa mô hình Viện công tố và mô hình Viện kiểm sát tại Chương 2.
- Tư liệu lịch sử lập hiến và bảng phân tích thực trạng các quy phạm hiến định về VKSND qua các bản Hiến pháp tại Chương 3 và Phụ lục 1.
- Hệ thống luận cứ khoa học bảo vệ mô hình VKSND và các giải pháp lập hiến tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
-
Cơ sở lý luận nền tảng cho việc thành lập và duy trì mô hình Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam là gì?
- Trả lời: Cơ sở lý luận nền tảng là học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là tư tưởng của V.I. Lênin trong tác phẩm "Bàn về chế độ trực thuộc song trùng và pháp chế" (năm 1922). Theo đó, pháp chế phải thống nhất trên toàn quốc, không phụ thuộc vào sự can thiệp của chính quyền địa phương. Cơ quan kiểm sát được thiết lập theo nguyên tắc tập trung thống nhất, độc lập với địa phương nhằm bảo đảm cho pháp luật được hiểu và chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất.
-
Phạm vi chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND đã thay đổi như thế nào qua các giai đoạn lập hiến?
- Trả lời: Trong Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 (giai đoạn trước năm 2002), VKSND thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở phạm vi rộng (kiểm sát chung đối với các bộ, cơ quan nhà nước địa phương, tổ chức xã hội và công dân). Từ ngày 29/01/2002 (sau khi sửa đổi Hiến pháp năm 1992) và tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013, chức năng kiểm sát chung được bãi bỏ, phạm vi kiểm sát của VKSND chỉ tập trung vào kiểm sát hoạt động tư pháp (kiểm sát các hoạt động của cơ quan điều tra, tòa án, cơ quan thi hành án...).
-
Tại sao luận án bảo vệ quan điểm tiếp tục duy trì mô hình Viện kiểm sát thay vì chuyển sang mô hình Viện công tố?
- Trả lời: Luận án phân tích rằng cấu trúc quyền lực nhà nước Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập quyền XHCN (quyền lực nhà nước thống nhất, thuộc về nhân dân, tập trung vào Quốc hội, không áp dụng thuyết tam quyền phân lập với cơ chế kiềm chế - đối trọng tự động). Trong điều kiện đó, Quốc hội cần một thiết chế giám sát chuyên nghiệp, độc lập ở tầng nấc thấp hơn là VKSND để kiểm soát quyền lực tư pháp và bảo đảm pháp chế thống nhất; mô hình Viện công tố đơn thuần (chỉ thực hành quyền công tố mà không có chức năng kiểm sát tư pháp) sẽ tạo ra khoảng trống trong giám sát công quyền.
-
Nguyên tắc tổ chức cơ bản của hệ thống VKSND Việt Nam là gì?
- Trả lời: VKSND tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong toàn ngành: Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên; Viện trưởng các VKSND địa phương, các Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao. VKSND hoạt động độc lập với các cơ quan nhà nước khác ở địa phương và không chịu chế độ song trùng trực thuộc.
-
Hiến pháp năm 2013 quy định chức năng và nhiệm vụ của VKSND như thế nào?
- Trả lời: Hiến pháp năm 2013 quy định VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Ngô Hùng Thái là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về chế định Viện kiểm sát nhân dân qua các bản Hiến pháp trong lịch sử lập hiến Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992 và 2013). Bằng phương pháp tiếp cận định tính đa ngành và luật học so sánh, luận án đã làm rõ cơ sở lý luận Mác - Lênin và thực tiễn chính trị - pháp lý của mô hình VKSND trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta. Công trình đã luận giải tính tất yếu của việc duy trì mô hình VKSND, đồng thời cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và các giải pháp lập hiến, lập pháp nhằm hoàn thiện chế định VKSND theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu cải cách tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.