CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (ECONOMIC VALUE ADDED – EVA) 1. THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG 1. Quá trình hình thành và phát triển của thước đo EVA Giá trị kinh tế tăng thêm (Economic Value Added – EVA) là một thuật ngữ kinh tế đã xuất hiện trong hơn 200 năm và thuật ngữ này mới được phát triển bởi các nhà kinh tế Alfred Marshall trong những năm 1890. Câu chuyện bắt đầu từ việc tìm kiếm lại công bố người đoạt giải Nobel Merton H.
Miller (Đại học Chicago) và Franco Modigliani (MIT) vào năm 1958, 1960, và 1961. EVA là khái niệm đơn giản về thu nhập còn lại (Residual Income - RI). General Motors sử dụng thước đo thu nhập còn lại để đánh giá thành quả và thực hiện các khuyến khích trong thập niên 1920. Trong những năm 1950-1960 General Electric (GE) đã sử dụng RI để đánh giá thành quả hoạt động.
GE định nghĩa RI như là “sự chênh lệch giữa lợi nhuận thuần và chi phí sử dụng vốn, là phần thặng dư của lợi nhuận thuần sau khi trừ đi chi phí sử dụng vốn” (Solomons, 1965). Thế nhưng nó nhận được ít sự quan tâm cho đến khi công ty tư vấn Stern Stewart đã giới thiệu chi tiết khái niệm EVA, phát triển khái niệm này rộng hơn trong bài báo trên tạp chí Fortune (Tully, 1993) và sau đó hàng loạt các nghiên cứu liên quan đến EVA đã được công bố như: Walbert, 1993; Birchard, 1994; Brossy and Balkcom, 1994; McConville, 1994; Bennett, 1995; Ochsner, 1995; Stewart, 1995; Birchard, 1996; Davies, 1996; Gapenski, 1996; Lehn and Makhija, 1996. EVA được ứng dụng trong việc đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp, lựa chọn dự án đầu tư; xây dựng chính sách khen thưởng và được triển khai rộng khắp tại các công ty ở Hoa Kỳ, Anh, Đức, New Zealand. điển hình là công ty AT & T, Coca-Cola, và Quaker Oats.
Nhằm tìm kiếm cách thức đo lường lợi nhuận kinh tế (economic profit) thật sự mà một doanh nghiệp có thể tạo ra, định lượng nó một cách cụ thể. Nhờ đó mà chúng ta có thể xác định được mức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ‐2‐ độ thành công cũng như thua lỗ của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nào đó một cách chính xác hơn và đơn giản hơn. Bên cạnh đó, EVA cũng là một thước đo hữu ích đối với nhà đầu tư khi muốn định lượng giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư cũng có thể dùng thước đo EVA để so sánh doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác cùng ngành một cách nhanh chóng.
Các nhà đầu tư cũng quan tâm đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp như các nhà quản lý, nhưng quan trọng hơn cả là họ muốn biết mỗi đồng vốn đầu tư bỏ ra có thu nhập thật sự là bao nhiêu sau khi tính đến chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn đầu tư. Vì thế cần có một thước đo có thể cho các nhà đầu tư cũng như các nhà quản lý thấy được giá trị thực sự của doanh nghiệp và lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra có tạo ra tiền cho cổ đông hay không. Mục tiêu của tất cả các doanh nghiệp chính là việc tạo ra các giá trị cho cổ đông. EVA có thể giúp bất kỳ công ty trong bất kỳ ngành nào tạo ra kết quả tốt hơn cho các cổ đông, nhân viên và khách hàng.
Các cuộc cách mạng EVA đã được tiến hành hơn 300 công ty trên khắp các châu lục, đã thực hiện khuôn mẫu lý thuyết EVA Stern Stewart trong quản lý tài chính và chính sách khuyến khích với doanh thu gần một nghìn tỷ đô la một năm. EVA lần lượt đã giúp các nhà quản lý của các công ty này tạo ra hàng trăm tỷ đô la trên tài sản cổ đông. Có nhiều bằng chứng được các học giả nghiên cứu chỉ ra rằng khi sử dụng thước đo EVA trong việc đánh giá thành quả hoạt động như là một bộ phận cấu thành hệ thống quản lý giá trị của doanh nghiệp thì sẽ duy trì được sự ổn định và tạo động lực cho các nhà quản lý (Fortune, 1993). Như vậy sử dụng EVA sẽ giúp nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của doanh nghiệp là tạo ra giá trị cho cổ đông.
Ngoài ra thước đo EVA còn là cở sở phù hợp để khen thưởng các nhà quản lý với thành quả mà họ mang lại cho doanh nghiệp. Nếu không thể đo lường giá trị ấy một cách cụ thể thì các cổ đông cũng như nhà đầu tư không nhận biết giá trị tốt nhất mà doanh nghiệp thật sự tạo ra là bao nhiêu. EVA cũng được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng tri thức và giới kinh doanh, nó làm thay đổi cách chọn cổ phiếu ở Wall Street. Một số các công ty lớn ở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ‐3‐ Wall Street đã chấp nhận EVA như một công cụ chính để xác định giá trị công ty.
EVA là một nhân tố có khả năng ảnh hưởng cao đến sự biến động giá cổ phiếu giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Ví dụ: giá cổ phiếu của CSX tăng từ 28 USD lên 75 USD từ giữa năm 1988 và năm 1993 (Tully, 1993). Nếu EVA đang dương nhưng trong tương lai EVA có thể thấp hơn thì đó có thể là một tín hiệu không tốt đối với nhà đầu tư. Ngược lại, nếu doanh nghiệp đang có EVA âm nhưng được kỳ vọng là EVA sẽ gia tăng lên một mức rất khả quan thì đó lại là một tín hiệu tốt thúc đẩy nhà đầu tư mua cổ phiếu của doanh nghiệp.
Khái niệm, ý nghĩa thước đo EVA 1. Khái niệm Giá trị kinh tế tăng thêm (Economic value added -EVA) là thước đo phần thu nhập tăng thêm từ chênh lệch giữa lợi nhuận hoạt động sau thuế và chi phí sử dụng vốn (Ehrbar, 1998). Chi phí sử dụng vốn trong xác định EVA là chỉ tiêu mà các nhà kinh tế gọi là chi phí cơ hội. Đó là suất sinh lợi mà các nhà đầu tư mong đợi để có được khi bỏ tiền vào một khoản đầu tư khác có rủi ro tương đương (Ehrbar, 1998).
Lãi suất sử dụng vốn và số vốn sử dụng là nhân tố cấu thành nên chi phí sử dụng vốn. Lãi suất sử dụng vốn phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố như tính rủi ro của việc sử dụng vốn, lãi suất của các khoản nợ, cấu trúc vốn của doanh nghiệp và chính sách phân phối lợi nhuận (Ehrbar,1998). Trong lĩnh vực tài chính thì lãi suất sử dụng vốn được xác định từ thị trường vốn, là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư tối thiểu cần phải đạt được để đảm bảo tạo ra giá trị tăng thêm và duy trì tỷ suất lợi nhuận. Đối với nhà đầu tư thì lãi suất sử dụng vốn là tỷ suất sinh lời mà nhà đầu tư đòi hỏi khi đầu tư vốn vào doanh nghiệp.
Mức sinh lời này phải tương ứng với mức độ rủi ro mà nhà đầu tư có thể gặp phải khi đầu tư. Xác định EVA đòi hỏi các chỉ tiêu được phán ánh theo quan điểm kinh tế khắc phục được hạn chế của các thước đo truyền thống khác khi sử dụng số liệu kế toán phục vụ cho việc tính toán. Tính EVA dựa trên quan điểm kinh tế là xem tất các các nguồn vốn được huy động vào hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh đều phát sinh chi phí sử dụng vốn và phải được phản ánh theo cơ sở tiền. Vốn đầu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ‐4‐ tư là số vốn doanh nghiệp cần phải có để thực hiện hoạt động đầu tư hay hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, về nguyên tắc thì vốn đầu tư nên được xác định theo giá thị trường.
Việc tính toán EVA sẽ tạo ra một EVA dương hoặc âm. EVA dương phản ánh công ty đang tạo ra gia tăng giá trị cho các cổ đông của mình, trong khi EVA âm phản ánh công ty đang giảm dần giá trị của các cổ đông (Ehrbar, 1998). Sự khác biệt giữa giá trị sổ sách kế toán, giá trị thị trường của các loại tài sản và vốn đầu tư; Sự khác nhau giữa khái niệm lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán nên khi tính EVA cần phải thực hiện một số điều chỉnh. Lợi nhuận kinh tế là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến khoản đầu tư đó bao gồm cả chi phí cơ hội, chi phí sử dụng vốn.
Lợi nhuận kế toán là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí bao gồm các loại thuế. Công ty có thể đạt được lợi nhuận kế toán nhưng không mang lại lợi nhuận kinh tế. Trước đây người ta vẫn quen dùng chỉ số lợi nhuận ròng hay thu nhập trên mỗi cổ phần EPS là căn cứ tính giá trị doanh nghiệp tạo ra cho cổ đông. Song, càng ngày người ta càng ưa dùng thước đo EVA.
Bởi vì EVA xác định mức lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi trừ đi chi phí sử dụng vốn. Điều này là dễ hiểu, lợi nhuận nên được tính tương xứng với chi phí sử dụng vốn. Dễ thấy nhất là nếu cả hai doanh nghiệp đều tạo ra lợi nhuận là 1 tỷ đồng một năm, nhưng một doanh nghiệp đã phải sử dụng vốn đầu tư 500 triệu với một doanh nghiệp chỉ sử dụng vốn đầu tư có 200 triệu nên phải được đánh giá khác nhau. Để giải thích rõ hơn cho sự lựa chọn EVA thay vì các chỉ tiêu về thu nhập ròng, chúng ta lấy ví dụ về công ty thực phẩm Vissan.
Năm đầu hoạt động, công ty tạo ra được thu nhập từ hoạt động là 100 tỷ đồng trên vốn hoạt động là 1. Như vậy công ty đã tạo ra được tỷ suất sinh lợi trên vốn là 10%. Theo tính toán của kế toán thì rõ ràng công ty đang hoạt động kinh doanh rất tốt. Tuy nhiên, công ty đâu chỉ hoạt động trong một năm rồi đóng cửa, thị trường thực phẩm không phải lúc nào cũng ổn định, rủi ro tiềm ẩn lúc nào cũng có và có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Sức ép đối với các nghĩa vụ nợ cộng với tỷ suất sinh lợi đòi hỏi mà nhà đầu tư yêu cầu cho thời gian đầu khi đầu tư vào doanh nghiệp mới khởi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ‐5‐ nghiệp đã làm gia tăng chi phí sử dụng vốn của công ty lên đến 12%. Điều đó có nghĩa là năm ngoái, mặc dù công ty đạt lợi nhuận kế toán, nhưng thật sự thì các cổ đông của công ty đang bị lỗ 2%.