CHƯƠNG 1 HIỆP ƯỚC BASEL VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO CHUẨN MỰC CỦA HIỆP ƯỚC BASEL 1. Chuẩn mực về rủi ro tín dụng 1. Tổng quan về Basel 1. Vài nét về Uỷ ban Basel Ủy ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision – BCBS) là một Ủy ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập bởi các Thống đốc Ngân hàng trung ương của nhóm G-10 vào năm 1975.
Hiện nay, các thành viên của Uỷ ban này gồm các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Thuỷ Điển, Thụy Sỹ và Ý. Ủy ban này bao gồm đại diện cao cấp của các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng và bản thân Ngân hàng Trung ương của các nước thành viên. Ủy ban tổ chức họp hàng năm tại Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS – Bank for International Settlements) ở Washington, Hoa Kỳ hoặc tại Basel, Thụy Sĩ. Ban Thư ký thường trực của Ủy ban này cũng có trụ sở làm việc tại Washington.
Sau hàng loạt vụ sụp đổ của các ngân hàng trong những năm 1980, Ủy ban đã tập hợp tại thành phố Basel, Thụy Sỹ vào năm 1987 nhặm mục đích ngăn chặn xu hướng trên. Quan điểm của Ủy ban là sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, có thể đe dọa đến sự ổn định tài chính của quốc gia đó và trên trường quốc tế. Vì vậy, nhu cầu nâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính nhất thiết phải được nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới nói chung và Ủy ban nói riêng đặc biệt quan tâm. Vào năm 1988, Uỷ ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel hay còn gọi là Basel I.
Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu là 8%. Từ năm 1988, Basel I không chỉ phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn ở hầu hết các nước khác với các ngân hàng hoạt động quốc tế. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong nhiều năm sau đó, Ủy ban Basel đã dịch chuyển nhanh chóng để đưa ra các tiêu chuẩn giám sát rộng rãi toàn cầu qua việc hợp tác chặt chẽ với nhiều ủy ban giám sát hoạt động ngân hàng của các nước không phải là thành viên. Thông qua một thời gian dài vận dụng các chuẩn mực vào việc giám sát tín dụng của hệ thống các ngân hàng trên thế giới, Basel I đã bộc lộ những thiếu sót của mình như không phân biệt loại rủi ro, không có lợi ích từ việc đa dạng hóa, “cơ lợi” có tính hệ thống và cuối cùng là không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành.
Những khiếm khuyết trên ít nhiều đã làm kết quả đánh giá của hệ thống Basel ít nhiều còn thiếu sót, không chính xác. Đây là những tiền đề để Uỷ ban Basel đẩy mạnh việc nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện các tiêu chuẩn đánh giá, tạo cơ sở cho việc ra đời của Basel II vào năm 2004 và được áp dụng cho đến nay. Giới thiệu khái quát về Basel II Basel II là Hiệp ước quốc tế về tiêu chuẩn an toàn vốn, tăng cường quản trị toàn cầu hoá tài chính cũng như việc khai thác tối đa tiềm năng lợi nhuận và hạn chế rủi ro. Hiệp ước Basel II đề cập đến các vấn đề chính gồm những quy định liên quan đến tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu, quá trình xem xét giám sát của cơ quan quản lý và cuối cùng là các quy tắc thị trường.
Như vậy Basel II bao gồm những khuyến nghị về luật và quy định ngành ngân hàng, được ban hành bởi Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng. Basel II bao gồm ba trụ cột: a) Trụ cột 1: Những yêu cầu vốn tối thiểu. Trụ cột 1 liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Lượng vốn duy trì được tính toán theo ba yếu tố rủi ro chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường.
Những rủi ro khác không được coi là có thể lượng hoá hoàn toàn ở bước này. b) Trụ cột 2: Quá trình đánh giá giám sát – đề cập về kiểm tra tỷ lệ an toàn vốn. Trụ cột 2 liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I. Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk).
Bốn nguyên tắc để xem xét giám sát: - Ngân hàng nên có một quy trình xác định mức độ vốn nội bộ theo mức rủi ro và chiến lược duy trì các mức vốn khác nhau. - Các giám sát viên nên xem xét và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn tối thiểu. - Khuyến nghị rằng ngân hàng nên giữ mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định. - Giám sát viên sẽ tìm cách thâm nhập vào những giai đoạn đầu tiên để ngăn cản mức vốn giảm xuống dưới mức tối thiểu.
c) Trụ cột 3: Kỷ luật thị trường – đề cập đến vấn đề công khai thông tin. Trụ cột 3 làm gia tăng một cách đáng kể các thông tin mà một ngân hàng phải công bố. Phần này được thiết kế để cho phép thị trường có một bức tranh hoàn hảo hơn về rủi ro tổng thể của ngân hàng và cho phép các đối tác của ngân hàng định giá và tham gia chuyển giao một cách hợp lý. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Basel I Basel II Cấu trúc và Ba trụ cột, nhấn mạnh hơn về phương pháp Yêu cầu vốn tối nội dung luận nội bộ của ngân hàng, xem xét đánh giá, thiểu và quy luật thị trường Tính linh động Một quy định cho Linh hoạt hơn, một loạt các cách tiếp cận, của ứng dụng tất cả khuyến khích quản lý rủi ro tốt hơn Nhạy cảm Đo đạc rủi ro quá sơ Nhạy cảm hơn với rủi ro với rủi ro bộ Trọng số 0~100, ưu đãi hơn 0~150 hoặc hơn, không có đặc quyền nào, rủi ro với các nước OECD bao gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài Kỹ thuật giảm Chỉ hỗ trợ và đảm Nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm bảo, rủi ro tín dụng bảo phái sinh tín dụng Bảng 1.1: So sánh giữa Hiệp ước Basel 1 và Basel II: 1.
Chuẩn mực an toàn và quản lý rủi ro tín dụng 1. Đảm bảo hệ số an toàn vốn Yêu cầu an toàn vốn: Ngân hàng phải xác lập an toàn vốn phù hợp, thận trọng và cần phải xác định các nhân tố của vốn có khả năng làm giảm lỗ. Hiệp định ấn định mức rủi ro đối với các khoản mục tài sản Có nội bảng và ngoại bảng theo các loại rủi ro liên quan, các mức độ này được giản đơn tối đa với 5 tỷ lệ: 0%, 10%, 20%, 50% và 100%. Hiệp định có yêu cầu về hệ số vốn tối thiểu cho các ngân hàng hoạt động quốc tế là 4% đối với vốn cấp 1 và 8% đối với tổng vốn (bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2) so với tài sản Có rủi ro.
Hoàn thiện quy trình cấp tín dụng và giám sát cho vay Công việc thiết yếu của hệ thống kiểm soát là đánh giá chính sách, thông lệ và quy trình liên quan đến việc cấp tín dụng, thực hiện đầu tư cũng như công tác quản lý tín dụng và danh mục đầu tư hiện tại. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chức năng tín dụng và đầu tư của ngân hàng là khách quan và dựa trên các nguyên tắc lành mạnh. Duy trì chính sách cho vay, mục đích vay và thủ tục cho vay thận trọng với các văn bản cho vay hợp lý là cần thiết đối với chức năng quản lý tín dụng của ngân hàng. Ngân hàng cần phải có một quá trình giám sát quan hệ tín dụng hiện tại của khách hàng.
Cơ sở dữ liệu là nhân tố quan trọng của hệ thống thông tin quản lý, cần phải được chi tiết danh mục cho vay. Đánh giá chất lượng tài sản và dự phòng rủi ro mất vốn tín dụng Ngân hàng phải thiết lập và duy trì các chính sách, thói quen và thủ tục phù hợp với việc đánh giá chất lượng tài sản, dự phòng rủi ro mất vốn tín dụng. Ngân hàng phải xây dựng quy trình giám sát các khoản nợ có vấn đề và nợ quá hạn. Khi thực hiện bảo lãnh hoặc nhận thế chấp, cầm cố, ngân hàng phải có phương pháp đánh giá uy tín của người bảo lãnh và định giá tài sản đảm bảo.
Khi có các khoản nợ có vấn đề thì ngân hàng tăng cường hoạt động cho vay trên cơ sở đảm bảo cấp tín dụng và sức mạnh tài chính tổng thể. Phân tán rủi ro tín dụng Ngân hàng phải có hệ thống thông tin quản lý cho phép xác định những điểm đáng chú ý trong danh mục đầu tư và phải thiết lập giới hạn an toàn để hạn chế xu hướng tập trung vào các khách hàng đơn lẻ hoặc nhóm khách hàng có quan hệ với nhau. Giao dịch cho vay khách hàng có quan hệ với nhau thường gây ra những rủi ro đặc biệt cho ngân hàng, do đó nên có sự chấp thuận của Hội đồng quản trị. Sử dụng hệ thống đánh giá xếp hạng nội bộ Hàng năm, kiểm toán nội bộ hoặc một bộ phận độc lập tương đương phải xem xét hệ thống đánh giá xếp hạng nội bộ (IRB – internal ratings-based) của ngân hàng và các hoạt động của nó, bao gồm các hoạt động của chức năng tín dụng và các ước tính xác suất không trả được nợ (PD – probability of default), không trả nợ do tổn thất (LGD – loss given default), rủi ro tiềm năng do không trả nợ (EAD – exposure at default).
Các lĩnh vực được xem xét còn bao gồm việc tuân thủ các yêu cầu tối thiểu đã ban hành. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.