Chương 1: Tổng quan về lãi suất, phòng ngừa rủi ro lãi suất và các công cụ tài chính phái sinh Chương 2: Thực trạng vận dụng công cụ tài chính phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất tại một số NHTMCP Việt Nam Chương 3: Giải pháp vận dụng công cụ tài chính phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất tại các NHTMCP Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT, PHÒNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT VÀ CÔNG CỤ TÀI CHÍNH PHÁI SINH 1.1 Phòng ngừa rủi ro lãi suất: 1.1 Khái niệm về lãi suất: Trong thị trường hàng hóa, hàng hóa và dịch vụ được mua và bán thông qua giá cả, nhưng trên thị trường tài chính, hàng hóa là quyền sử dụng vốn và giá cả chính là lãi suất. Nói một cách khác, lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng vốn không thuộc sở hữu của họ trong khoảng thời gian nhất định và là lợi tức của người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu. Ở góc độ người cho vay, lãi suất là tỷ suất lợi tức, nghĩa là tỷ lệ phần trăm giữa lợi tức và doanh số cho vay trong một khoảng thời gian nhất định. Thực chất, lãi suất chính là giá cả của tín dụng và nó được xác định thông qua quan hệ cung cầu vốn trên thị trường.2 Phân loại lãi suất: Căn cứ vào thời hạn tín dụng: + Lãi suất ngắn hạn: Lãi suất áp dụng cho quan hệ tín dụng ngắn hạn thường là dưới một năm + Lãi suất dài hạn: Lãi suất áp dụng trong quan hệ tín dụng trung và dài hạn Căn cứ vào sự linh hoạt của lãi suất: + Lãi suất cố định: Lãi suất được duy trì cố định trong suốt thời hạn cho vay + Lãi suất thả nổi: Lãi suất có thể thay đổi trong thời hạn vay trên cơ sở phù hợp với sự biến động của thị trường Căn cứ vào giá trị của tiền lãi: + Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ chưa trừ đi tỷ lệ lạm phát hay là lãi suất công bố hoặc thỏa thuận trong các quan hệ tín dụng + Lãi suất thực: là lãi suất được xác định trên cơ sở điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát hay nói cách khác lãi suất thực là lãi suất đã loại trừ tỷ lệ lạm phát.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Căn cứ vào nghiệp vụ ngân hàng: + Lãi suất tiền gửi ngân hàng: là lãi suất mà ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào ngân hàng + Lãi suất tín dụng ngân hàng: là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng + Lãi suất chiết khấu: là lãi suất cho vay mà ngân hàng thương mại cho khách hàng vay thông qua nghiệp vụ cho vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán. Nó được tính bằng tỷ lệ % của tiền lãi trên tổng giá trị của giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng cấp tiền vay cho khách hàng. + Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay của ngân hàng Nhà Nước khi ngân hàng Nhà Nước cho ngân hàng thương mại vay thông qua nghiệp vụ cho vay dưới hình thức chiết khấu lại thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán. + Lãi suất cơ bản: là lãi suất do ngân hàng Nhà Nước ấn định, làm cơ sở cho các ngân hàng thương mại xác định lãi suất kinh doanh của mình.
+ Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất vay và cho vay giữa các ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng + Lãi suất tái cấp vốn: là lãi suất cho vay của Ngân hàng Nhà Nước đối với các ngân hàng thương mại dưới hình thức tái cấp vốn. Căn cứ vào loại tiền cho vay: + Lãi suất nội tệ: là lãi suất cho vay và đi vay nội tệ + Lãi suất ngoại tệ: là lãi suất cho vay và đi vay ngoại tệ 1.3 Vai trò của lãi suất đối với các ngân hàng thƣơng mại: Lãi suất ngân hàng là nhân tố quan trọng quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM và khách hàng. Nếu lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển và ngược lại. Bởi vậy lãi suất ngân hàng vừa là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà Nước vừa là công cụ điều hành vi mô của các NHTM.
NHTM với hai nghiệp vụ chính trong hoạt động kinh doanh của mình là huy động vốn và sử dụng vốn đã phản ánh quy mô hoạt động của các NHTM. NHTM LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong các doanh nghiệp và dân cư để cho vay phát triển kinh tế và các nhu cầu tiêu dùng khác của nhân dân. Khi huy động tiền gửi mà với lãi suất thấp thì không khuyến khích doanh nghiệp và dân cư gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng, sẽ dẫn đến hậu quả là NHTM không đủ vốn để cho vay đáp ứng yêu cầu vay vốn của khách hàng. Ngược lại, nếu lãi suất cho vay cao, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không có lãi hoặc lãi quá thấp sẽ thu hẹp sản xuất hoặc ngừng hoạt động để gửi vốn vào ngân hàng.
Chính vì thế, để huy động vốn và cho vay có hiệu quả, NHTM phải xác định lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay một cách hợp lý.2 Rủi ro lãi suất: 1.1 Khái niệm về rủi ro lãi suất: Trong hoạt động kinh doanh, các chủ thể kinh tế sẽ gặp rất nhiều rủi ro, trong đó rủi ro lãi suất là rủi ro mà các chủ thể kinh tế gặp phải khi có sự biến động lãi suất.Koch cho rằng: Rủi ro lãi suất là sự thay đổi tiềm tàng về thu nhập lãi ròng và giá thị trường của vốn ngân hàng xuất phát từ sự thay đổi của mức lãi suất. Rủi ro lãi suất phát sinh khi có chênh lệch về kỳ hạn tái định giá giữa tài sản Nợ và tài sản Có của ngân hàng. Mỗi một biến động của tỷ lệ lãi suất ảnh hưởng trực tiếp và sâu rộng đến lợi nhuận của ngân hàng. Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng.
Biến động lãi suất trên thị trường sẽ làm thay đổi thu nhập ròng từ lãi suất của ngân hàng và các thu nhập nhạy cảm lãi suất khác cũng như tác động đến chi phí hoạt động của ngân hàng và ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và giá trị cổ đông. Tuy nhiên, rủi ro lãi suất vượt quá mức sẽ đe dọa đến lợi nhuận và vốn của ngân hàng.2 Các hình thức của rủi ro lãi suất: Rủi ro về giá: Phát sinh khi lãi suất thị trường tăng sẽ làm giảm giá trị các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 khoản đầu tư dài hạn lãi suất cố định của ngân hàng. Nếu ngân hàng muốn bán những công cụ tài chính này trong giai đoạn lãi suất tăng, ngân hàng phải chấp nhận tổn thất. Rủi ro tái đầu tƣ xuất hiện khi lãi suất thị trường hạ khiến ngân hàng phải chấp nhận đầu tư nguồn vốn của mình vào những tài sản có mức sinh lợi thấp hơn, hạ thấp thu nhập kỳ vọng trong tương lai của ngân hàng.
Cả hai trường hợp rủi ro về giá và rủi ro tái đầu tư đều tồn tại sự không phù hợp về kỳ hạn của tài sản và nguồn vốn trong điều kiện các hợp đồng huy động và tài trợ với lãi suất cố định. Tình trạng này kết hợp cùng sự thay đổi lãi suất ngoài dự kiến của thị trường làm nảy sinh tổn thất cho ngân hàng.3 Các yêu cầu về vốn đối với rủi ro lãi suất theo chuẩn mực Basel: Ủy ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng là một Ủy ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập vào năm 1974 bởi các Thống đốc ngân hàng Trung Ương của nhóm 10 nước (G10) xuất phát từ sau một loạt các cuộc khủng hoảng về tiền tệ quốc tế và thị trường ngân hàng, trong đó đáng chú ý nhất chính là sự sụp đổ của ngân hàng Herstatt ở Tây Đức lúc bấy giờ. Hiện nay, thành viên của Ủy ban này gồm các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembuorg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha,Thụy Điển,Thụy Sỹ và Ý. Các quốc gia được đại diện bởi ngân hàng Trung Ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng.
Ủy ban Basel này được nhóm họp 4 lần trong một năm. Quan điểm của Ủy ban là: Sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, có thể đe dọa đến sự ổn định về tài chính trong cả nội bộ quốc gia đó và trên trường quốc tế. Vì vậy, nhu cầu nâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính nhất thiết phải được nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới nói chung và Ủy ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng nói riêng đặc biệt quan tâm. Trong nhiều năm qua, Ủy ban Basel đã đưa ra các tiêu chuẩn giám sát rộng rãi toàn cầu, qua việc hợp tác chặt chẽ với nhiều ủy ban giám sát hoạt động ngân hàng của các nước không phải là thành viên.
Vào năm 1997, Ủy ban Basel đã phát triển LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 một tập hợp “Các nguyên tắc nòng cốt cho việc giám sát hoạt động ngân hàng hiệu quả” mà nó cung cấp một khuôn khổ cho hệ thống giám sát hiệu quả. Rủi ro thị trường theo Ủy ban Basel đó là rủi ro xảy ra sự mất mát trong trạng thái giao dịch khi giá cả biến động bất thường. Thông thường rủi ro thị trường sẽ gắn liền với bốn loại rủi ro cơ bản trên các giao dịch sổ sách đó là rủi ro lãi suất, rủi ro về trạng thái vốn, rủi ro tỷ giá và rủi ro hàng hóa. Theo qui định của Basel II khi đánh giá rủi ro thị thường cho phép các ngân hàng tính thêm phần vốn cấp 3 gồm các khoản nợ phụ thuộc ngắn hạn với mục đích dự trữ.Vốn cấp 3 này bị giới hạn 250% vốn cấp 1 dùng để đối phó với rủi ro thị trường có nghĩa là có thể chỉ có 28.5% rủi ro thị trường cần vốn cấp 1 đảm bảo.