CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về tính hữu hiệu và hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động cấp tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1.1 Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động cấp tín dụng tại NHTM 1.1 Định nghĩa Tính hữu hiệu bao gồm việc có hiệu lực và có hiệu quả. Hiệu lực: Theo từ điển tiếng Việt “hiệu lực” có nghĩa là Mức độ thực hiện các hoạt động đã hoạch định và đạt được kết quả đã hoạch định. Như vậy, tính hiệu lực bao gồm hai phần: mức độ tuân thủ thực hiện các quy định và kết quả đạt được. Hiệu quả: Theo từ điển tiếng Việt “hiệu quả” có nghĩa là Quan hệ giữa kết quả đạt được và nguồn lực được sử dụng.
Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ: Quá trình nhận thức và nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đã dẫn đến sự hình thành các định nghĩa khác nhau từ giản đơn đến phức tạp về hệ thống này. Đến nay, định nghĩa này được chấp nhận là: Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện 3 mục tiêu: Báo cáo tài chính đáng tin cậy Các luật lệ và quy định được tuân thủ Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả 1.2 Phân biệt tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ: Hệ thống kiểm soát nội bộ đạt được tính hiệu lực có nghĩa là hệ thống đó có ban hành hệ thống văn bản quy định cụ thể về hoạt động kiểm soát nội bộ và hiện đang có áp dụng thực thi phù hợp với các quy định hiện hành. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Hệ thống kiểm soát nội bộ đạt được tính hiệu quả có nghĩa là những quy định hiện hành về hoạt động kiểm soát nội bộ đã tác động đến hiệu quả của các hoạt động cụ thể hay nói cách khác là hệ thống kiểm soát này đã hoàn thành được các mục tiêu, mục đích tốt.3 Mục tiêu của kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng: Thu nhập chính của các NHTM là từ hoạt động tín dụng và thực tế, rủi ro tín dụng là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự tổn thất về vốn cho các NHTM. Vì vậy, rủi ro tín dụng được xem là một trong những nhân tố hết sức quan trọng , đòi hỏi các ngân hàng phải có khả năng phân tích, đánh giá và kiểm soát hoạt động tín dụng hiệu quả.
Cho nên, các NHTM luôn chú trọng những giải pháp cụ thể nhằm ngăn ngừa và hạn chế tối đa rủi ro tín dụng xảy ra. Hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng có các mục tiêu sau: Thứ nhất, hoạt động tín dụng có hiệu quả, đạt được các mục tiêu kế hoạch do ban lãnh đạo đề ra. Ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng, hạn chế thất thoát vế sau. Thứ hai, HTKSNB trong hoạt động tín dụng nhằm đảm bảo việc tuân thủ các chính sách, quy định, quy trình hoạt động tín dụng hiện hành tại ngân hàng cũng như các quy định của NHNN, của pháp luật.
Thứ ba, đảm bảo mức độ tin cậy, tính trung thực, đầy đủ, kịp thời của các thông tin tài chính trong nghiệp vụ tín dụng.2 Khái quát về hoạt động cấp tín dụng và rủi ro tín dụng tại NHTM 1.1 Khái niệm về cấp tín dụng Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác 1 1 Khoản 14 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Vai trò của nghiệp vụ cấp tín dụng Thứ nhất, Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế là người trung gian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng đã thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn Thứ hai, Tín dụng ngân hàng tạo ra nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình sản xuất được thực hiện bình thường liên tục và phát triển nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình tái ẩn xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi quy mô sản xuất Thứ ba, Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và củng cố chế độ hoạch toán kinh tế Thứ tư, Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại 1.3 Các loại hình tín dụng ngân hàng: Về cơ bản, hoạt động tín dụng ngân hàng bao gồm các loại hình sau2: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc là: có hoàn trả cả gốc và lãi Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng , theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện 2 Theo điều 4 – Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán Cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính. Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, là hoạt động chính trong hoạt động cấp tín dụng như đã đề cập ở phần trước.4 Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là “Tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.”3 Rủi ro tín dụng có thể phát sinh do nguyên nhân chủ quan như quá trình phân tích và thẩm định tín dụng không kỹ lưỡng dẫn đến sai lầm trong quyết định cấp tín dụng.
Mặt khác, cũng có thể quyết định cấp tín dụng là đúng đắn nhưng do thiếu kiểm tra, kiểm soát sau khi cấp tín dụng dẫn đến khách hàng sử dụng vốn vay không có mục đích nhưng ngân hàng vẫn không phát hiện để ngăn ngừa kịp thời. Rủi ro tín dụng có thể chia thành hai loại chính là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả chỉ đề cập đến rủi ro khi cấp tín dụng cho khách hàng là rủi ro giao dịch. Rủi ro giao dịch là rủi ro liên quan đến từng khoản tín dụng mỗi khi ngân hàng ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng.
Nó phát sinh sai sót ở khâu đánh giá, thẩm định và xét duyệt tín dung hoặc phát sinh do thiếu chặt chẽ ở khâu theo dõi kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay hoặc phát sinh ở khâu đảm bảo và những cam kết trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro xét duyệt, rủi ro bảo đảm và rủi ro kiểm soát. 3 Khoản 1 điều 3 của thông tư 02/2013/TT-NHNN ban hành ngày 21/01/2013 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Rủi ro xét duyệt: Là rủi ro có liên quan đến việc đánh giá, thẩm định và xét duyệt khi cấp tín dụng. Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, hình thức bảo đảm và mức cấp tín dụng trên giá trị của tài sản đảm bảo.
Rủi ro kiểm soát: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý, giám sát việc sử dụng vốn cấp tín dụng.2 Bốn nguyên tắc chính trong kiểm tra kiểm soát nội bộ hoạt động cấp tín dụng theo quy định của Basel II 1.1 Nguyên tắc 1 Nguyên tắc 1: Ngân hàng nên có quy trình đánh giá tổng quan mức độ an toàn vốn trong mối liên hệ với các đặc điểm về rủi ro của ngân hàng và có một chiến lược để duy trì vốn. Nguyên tắc này đề cập đến Năm thuộc tính chính của một quy trình chặt chẽ là: Giám sát của hội đồng quản trị và ban điều hành; Ước tính mức vốn hợp lý; Đánh giá toàn diện các rủi ro; Giám sát và báo cáo; và Xem xét đánh giá hoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ. Giám sát của hội đồng quản trị và ban điều hành Một quy trình quản lý rủi ro tín dụng phù hợp chính là nền tảng cho việc đánh giá một cách hiệu quả mức độ an toàn vốn của ngân hàng. Ban quản lý ngân hàng phải có trách nhiệm hiểu được bản chất và mức rủi ro tín dụng mà ngân hàng đang phải đối mặt và mối liên hệ giữa các rủi ro đó với mức độ an toàn vốn của ngân hàng.
Đồng thời họ cũng phải đảm bảo rằng hình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 thức và mức độ chi tiết của các quy trình quản lý rủi ro phù hợp với các đặc điểm về rủi ro và kế hoạch kinh doanh của ngân hàng. Hội đồng quản trị có trách nhiệm thiết lập mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng trong mảng tín dụng. Đồng thời họ cũng phải đảm bảo rằng ban điều hành xây dựng được khung cơ sở để đánh giá các rủi ro tín dụng, phát triển được một hệ thống kết nối rủi ro với mức vốn của ngân hàng và xây dựng được một phương pháp kiểm soát phù hợp với các chính sách nội bộ.