Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài luận văn Chương 2. Thực trạng vai trò của việc sử dụng vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Tài liệu tham khảo Phụ lục 21 z PHẦN 2.
NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN VĂN CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 1. Các khái niệm công cụ 1. Khái niệm vai trò xã hội Thuật ngữ “vai trò xã hội” xuất phát từ kịch học.
Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng. Nó chính là mặt động của vị thế xã hội vì luôn biến đổi trong xã hội khác nhau thậm chí qua các nhóm xã hội khác nhau. Để thực hiện những quyền và nghĩa vụ của từng vị thế xã hội, mỗi cá nhân cần phải thực hiện những hành động nhất định. Tức là, tương ứng với từng vị thế sẽ có một mô hình hành vi được xã hội mong đợi.
Mô hình hành vi được xã hội mong đợi này chính là vai trò tương ứng của vị thế xã hội đó. Vậy, vai trò xã hội là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế đó. Như vậy, vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội. Những đòi hỏi được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội.
Các chuẩn mực này thường không giống nhau trong các loại xã hội. Vì vậy, ở các xã hội khác nhau cùng một vị thế xã hội nhưng mô hình hành vi được xã hội mong đợi rất khác nhau tức là các vai trò xã hội cũng khác nhau. Theo các lý thuyết xã hội học, vai trò xã hội và việc đóng vai trò xã hội có những tính chất đặc thù sau: * Tính chất 1: Ðối với con người, đóng vai trò xã hội và thay đổi vai trò là công việc hàng ngày diễn ra liên tục, kế tiếp nhau và không trùng lặp về thời gian. Ở mỗi hoàn cảnh không gian và thời gian khác nhau con người sẽ có những vai trò xã hội khác nhau.
* Tính chất 2: Không thể liệt kê số lượng vai trò của mỗi cá nhân, bởi lẽ cá nhân có bao nhiêu mối quan hệ là có bấy nhiêu vai trò. * Tính chất 3: Vai trò xã hội phát sinh theo nhu cầu của cá nhân. Theo George Herbert Mead, người đứng đầu học thuyết tương tác tượng 22 z trưng trong xã hội học, sự tăng thêm các vai trò xã hội trong một cá thể là bởi con người - một mặt thừa nhận tính mong manh và hạn chế của bản thân khiến họ phải tìm kiếm những quan hệ với người khác để có thể sống còn. Mặt khác là xu hướng đi tìm và lựa chọn những kiểu hành động có lợi cho sự hợp tác, giao dịch xã hội.
Như vậy, tính đa phức của vai trò xã hội phát sinh theo hai nhu cầu: Một là, nhu cầu bổ khuyết những mặt hạn chế của bản thân. Hai là, nhu cầu giao dịch vì lợi ích. * Tính chất 4: Vai trò xã hội được thể hiện ở nhiều mặt. - Vai trò thật là vai trò diễn ra trong đời sống hàng ngày, ngược lại là các vai trò giả thường xuất hiện trong các mối quan hệ ngoại giao.
- Vai trò định chế là vai trò của một cá nhân do một tổ chức qui định. Ngoài ra là các vai trò do cá nhân tự chọn. Khái niệm vốn xã hội Vốn xã hội là một thuật ngữ trong một hai thập niên gần đây được đề cập nhiều trong giới khoa học xã hội, nhưng cho đến giờ, giới học thuật vẫn chưa đi đến một khái niệm thống nhất về vốn xã hội. Dưới đây là một số quan điểm về vốn xã hội của một số các nhà khoa học trong và ngoài nước.
Trước hết, trong một công trình xuất bản năm 1980, khi tìm cách giải thích tình trạng bất bình đẳng xã hội và quá trình tái sản xuất tình trạng bất bình đẳng ấy, nhà xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu đã du nhập khái niệm “vốn” hay “tư bản” (capital) của lĩnh vực kinh tế học vào lĩnh vực xã hội học để phân tích quá trình lưu thông của các loại tài sản khác nhau trong không gian xã hội. Trong hệ quan niệm của Bourdieu, vốn xã hội là toàn bộ nguồn lực (thực tế hoặc tiềm ẩn) xuất phát từ mạng lưới quen biết trực tiếp hoặc gián tiếp (chẳng hạn thành viên của cùng một tôn giáo, hoặc cùng sinh quán, hay đồng môn). Trong đa số trường hợp, mạng lưới này đã có từ lâu và đã được thể chế hoá phần nào. Nhờ nó, những cá nhân, gia đình, hay tập thể nào có nhiều móc nối thì càng lắm ưu thế.
Nói cách khác, mạng lưới này có giá trị sử dụng: nó là một loại "vốn". Theo Bourdieu: "Vốn xã hội là một thuộc tính của mỗi cá nhân trong bối cảnh xã hội. Bất 23 z cứ ai cũng có thể thu nhập một số vốn xã hội nếu người đó nỗ lực và chú tâm làm việc ấy, và hơn nữa bất cứ ai cũng có thể dùng vốn xã hội để đem lại những lợi ích kinh tế thông thường. Song, khả năng thực hiện điều ấy tùy thuộc vào những trách nhiệm xã hội (social obligation) móc nối (connection) và mạng lưới xã hội của người ấy".
Theo ông, ngoài vốn kinh tế (capital economic), còn phân biệt ba loại vốn nữa là vốn văn hoá (capital culturel), vốn xã hội (capital social), và vốn biểu tượng (capital symbol). Bourdieu định nghĩa vốn xã hội là một “mạng lưới lâu bền bao gồm các mối quan hệ quen biết nhau và nhận ra nhau. Những mối liên hệ này ít nhiều đã được định chế hoá”. Ông cho rằng, “khối lượng vốn xã hội của một cá nhân cụ thể nào đó phụ thuộc vào mức độ liên hệ rộng hay hẹp mà anh ta có thể huy động được trong thực tế và vào khối lượng vốn kinh tế, vốn văn hoá, hay vốn bỉểu tượng của từng người mà anh ta có thể liên hệ”.
Bourdieu quan niệm rằng các loại vốn vừa nói có thể chuyển hoá lẫn nhau. Tuy nhiên năm 1990, nhà xã hội học người Mỹ James Coleman đưa ra một cách định nghĩa về vốn xã hội khác với Bourdieu, ông hiểu “vốn xã hội bao gồm những đặc trưng trong đời sống xã hội như sau: các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực (norms) và sự tin cậy trong xã hội (social trust) – là những cái giúp cho các thành viên có thể hành động chung với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới mục tiêu chung”. Năm 1995, nhà chính trị học Robert Putnam đã lặp lại ý tưởng của Coleman và đưa ra định nghĩa về vốn xã hội trong một tạp chí như sau: “Hiểu một cách tương tự như những khái niệm vốn vật thể và vốn con người – Đây là những phương tiện và những kỹ năng đào tạo có tác dụng làm gia tăng năng suất của cá nhân - vốn xã hội nói tới những khía cạnh đặc trưng của tổ chức xã hội như các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tin cậy trong xã hội vốn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp và sự hợp tác nhằm đạt đến lợi ích hỗ tương. Như vậy, trong khi Bourdieu nhấn mạnh tới vốn xã hội với tư cách là một thứ tài sản mà mỗi cá nhân có thể có được, thì Coleman và Putnam lại hiểu vốn xã hội như một thứ tài sản chung của một cộng đồng hay một xã hội 24 z nào đó.
Putnam không những đã đào sâu khái niệm vốn xã hội, mà còn đề xuất những chỉ báo nhằm đo lường vốn xã hội. Ngoài ra, cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới hiện nay về vốn xã hội cũng phần nào tương tự như cách hiểu của Coleman và Putnam nêu trên: “Vốn xã hội là một khái niệm có liên quan tới những chuẩn mực và những mạng lưới xã hội dẫn đến hành động tập thể. Ngày càng có nhiều sự kiện minh chứng rằng sự gắn kết xã hội - vốn xã hội đóng vai trò trọng yếu đối với việc giảm nghèo và sự phát triển con người và kinh tế một cách bền vững” Mặc dù đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng tựu chung lại, vốn xã hội thường được định nghĩa xoay quanh ba yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau, đó là: (1) Khả năng làm việc chung với nhau; (2) sự tin cậy giữa con người với nhau; (3) các mạng lưới xã hội. Có nhiều định nghĩa về vốn xã hội, nhưng trong luận văn này tác giả lựa chọn theo cách tiếp cận của nhà xã hội học người Mỹ James Coleman về vốn xã hội.
Theo đó, vốn xã hội bao gồm những đặc trưng trong đời sống xã hội như: các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực (norms) và sự tin cậy trong xã hội (social trust). Đây là những yếu tố giúp cho các thành viên có thể hành động chung với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới mục tiêu chung. Tựu chung lại, vốn xã hội được hình thành và kết tinh từ những yếu tố cơ bản sau: Sự tin cậy lẫn nhau; Sự có đi có lại, hay sự tương hỗ; Những quy tắc hay hành vi mẫu mực chung và sự chế tài; Sự kết hợp lại với nhau thành một mạng lưới. * Vai trò của vốn xã hội Trong xã hội hiện nay, vốn xã hội có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển bền vững của doanh nghiệp song vốn xã hội cũng là con 25 z dao hai lưỡi, nó có cả mặt xấu lẫn mặt tốt.
Về lợi ích, vốn xã hội có những lợi ích sau: (1) Vốn xã hội khuyến khích các cá nhân chung sức giải quyết các "bài toán tập thể". Cụ thể, có những tình huống mà mọi người đều có lợi (có thể khá lớn) nếu mỗi người làm một việc nhỏ, song lợi ích (lớn) đó chỉ hiện thực khi mọi người đều làm việc nhỏ ấy. Ví dụ trong cuộc sống thường nhật: từ những việc quan trọng như đóng thuế, đến những việc tầm thường như dừng xe khi gặp đèn đỏ, hoặc không xả rác nơi công cộng [27]. Nói theo các nhà kinh tế, vốn xã hội như là sự kết tinh của một chuẩn mực ứng xử, một kỳ vọng chung của các thành viên trong cùng một cộng đồng giúp giải quyết “bài toán phối hợp” (coordination promblems).