Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ VỚI VIỆC BẢO VỆ NHÂN QUYỀN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm luật sư, vai trò của luật sư 1. Khái niệm luật sư Luật sư là một nghề tương đối truyền thống, đã xuất hiện từ hàng trăm năm trước đây ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về luật sư.
Chính vì vậy, pháp luật của nhiều quốc gia không đưa ra định nghĩa luật sư mà chỉ quy định những tiêu chuẩn để được công nhận là luật sư, trong đó có hai tiêu chuẩn phổ biến đó là: Về chuyên môn, phải có bằng cử nhân luật; Về tư cách, phải có phẩm chất đạo đức tốt6. Ngoài các tiêu chuẩn đó, pháp luật của nhiều quốc gia còn quy định, một người muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề, tập sự hành nghề luật sư, tham gia sát hạch năng lực qua một kỳ thi để được công nhận và cấp chứng chỉ luật sư. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, để trở thành luật sư, cần phải trải qua một kỳ thi quốc gia để được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Ở Nhật Bản, một người muốn 6 Nguyễn Văn Tuân, “Bàn về khái niệm luật sư và thẩm quyền công nhận luật sư”, Bài báo trên website của Công ly Luật Dazpro tại http://www.vn/tin-hay/ve-luat-su/ban-ve-khai-niem-luat-su-va-tham-quyen- cong-nhan-luat-su 9 trở thành luật sư trước hết phải thi đỗ kỳ thi tư pháp quốc gia, sau đó phải hoàn thành chương trình đào tạo 18 tháng tại Học viện Tư pháp, rồi lại phải đăng ký tên vào danh sách luật sư lưu giữ tại Liên đoàn luật sư Nhật Bản.
Ở Cộng hòa Liên bang Đức, người muốn trở thành luật sư phải đỗ 2 kỳ thi quốc gia về luật theo quy định của các bang, trong đó kỳ thi quốc gia về luật lần thứ nhất là kỳ thi kết thúc khoá học luật tại trường đại học, còn kỳ thi thứ hai sẽ do Bộ Tư pháp của mỗi bang tổ chức. Ở Trung Quốc, một muốn được hành nghề luật sư phải thi đỗ kỳ thi quốc gia công nhận đủ tiêu chuẩn (khả năng hành nghề) luật sư (được tổ chức mỗi năm một lần). Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tổ chức kỳ thi này và thực hiện việc công nhận đủ tiêu chuẩn (khả năng hành nghề) luật sư cho những người thi đỗ. Ở Việt Nam, theo Điều 2 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012) thì: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức”.
Luật cũng quy định các điều kiện để trở thành luật sư, bao gồm: Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam; Thứ hai, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt; Thứ ba, có bằng cử nhân chuyên ngành luật học; Thứ tư, có chứng chỉ đào tạo nghề luật sư do Học viện Tư pháp cấp; Thứ năm, đã hoàn thành 12 tháng tập sự hành nghề tại các tổ chức hành nghề và đạt kết quả vượt kỳ kiểm tra hết tập sự do Liên đoàn Luật sư Việt Nam tổ chức. Từ những phân tích ở trên, theo tác giả, có thể hiểu: Luật sư là những người mà theo pháp luật có đủ điều kiện hành nghề cung cấp dịch vụ pháp lý như bào chữa, tư vấn và các dịch vụ pháp lý khác cho khách hàng là cá nhân, cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước. Vai trò của luật sư Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm vai trò được hiểu là tác dụng, chức năng của ai hoặc cái gì trong sự hoạt động, sự phát triển chung của một tập thể, một tổ chức7. Về tính chất, “vai trò” là một khái niệm mô tả tư cách, vị trí hoặc chức năng mà một chủ thể phải đảm nhiệm trong một tình huống hay bối cảnh cụ thể.
Khái niệm “vai trò” hàm ý những nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn và hành vi được kỳ vọng từ chủ thể đó trong những bối cảnh xác định. Khái niệm vai trò có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực và môi trường khác nhau, bao gồm cả xã hội, gia đình, tổ chức và công việc. Ví dụ, trong gia đình, một người có thể đảm nhiệm vai trò của bố, mẹ, con cái hoặc ông, bà, anh, chị, em… Trong công việc, một người có thể đảm nhận vai trò của một nhân viên, quản lý, đồng nghiệp hoặc một khách hàng8. Từ góc nhìn khác, khái niệm vai trò không chỉ xác định các nhiệm vụ và trách nhiệm của một chủ thể, mà còn tạo ra kỳ vọng về hành vi, kiến thức và kỹ năng cần thiết của chủ thể đó để thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm được ấn định một cách hiệu quả.
Nó cũng có thể liên quan đến quyền lợi và quyền hạn mà một chủ thể được trao khi đóng một vai trò nào đó. Như vậy, điều rất quan trọng là chủ thể cần nhận thức và hiểu rõ vai trò của mình và của người khác trong bối cảnh xác định, để có thể hành động và hợp tác một cách hiệu quả9. Các khái niệm vai trò và ý nghĩa thường được đồng nhất là một, nhưng thực chất đó là hai khái niệm khác nhau, dù có mối liên quan mật thiết với nhau. Như đã đề cập, vai trò là một khái niệm mô tả tư cách, vị trí hoặc chức 7 Nguồn: http://tratu.vn/dict/vn_vn/Vai_tr%C3%B2 8 Lê Minh Trường, Khái niệm vai trò là gì? Phân biệt khái niệm vai trò và ý nghĩa, https://luatminhkhue.vn/khai-niem-vai-tro-la-gi-phan-biet-khai-niem-vai-tro-va-y-nghia.aspx 9 Lê Minh Trường ,tài liệu đã dẫn.
11 năng mà một chủ thể cần đảm nhiệm trong một bối cảnh cụ thể. Trong khi đó, ý nghĩa là một khái niệm mô tả giá trị hoặc mục đích của một điều gì đó, mang tính đặc biệt, quan trọng hoặc có tác động sâu s c đến con người và tạo nên một mục tiêu hoặc hướng đi trong cuộc sống, chứ không chỉ dừng lại ở tư cách, vị trí, chức năng của một chủ thể nhất định trong một bối cảnh nhất định10. Ví dụ, trong cuộc sống của mỗi cá nhân, ý nghĩa có thể liên quan đến mục tiêu và giá trị của mỗi người. Một người có thể tìm thấy ý nghĩa trong việc xây dựng một gia đình hạnh phúc, đóng góp vào xã hội, phát triển bản thân và đạt được thành công trong công việc11.
Tóm lại, vai trò là vị trí cụ thể mà một người có thể đảm nhiệm, trong khi ý nghĩa là giá trị và mục đích đằng sau vai trò đó. Vai trò có thể thay đổi theo ngữ cảnh và tình huống, trong khi ý nghĩa có thể là một yếu tố ổn định và định hướng trong suốt cuộc sống. Vai trò liên quan đến vị trí và chức năng mà một người đảm nhiệm, trong khi ý nghĩa liên quan đến giá trị và mục tiêu sâu xa của vai trò mà người đó đảm nhiệm12. Từ những phân tích ở trên, theo tác giả, có thể hiểu vai trò của luật sư là tư cách, vị trí hoặc chức năng mà một người được công nhận hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật mà cho phép họ thực hiện dịch vụ pháp lý như bào chữa, tư vấn và các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước.
Khái niệm nhân quyền, bảo vệ nhân quyền 1. Khái niệm nhân quyền Nhân quyền (hay quyền con người – human rights) là những giá trị bẩm sinh, vốn có, là những đặc quyền của mỗi cá nhân con người, được pháp luật 10 Lê Minh Trường ,tài liệu đã dẫn. 11 Lê Minh Trường ,tài liệu đã dẫn. 12 Lê Minh Trường ,tài liệu đã dẫn.
12 quốc tế và pháp luật của các quốc gia ghi nhận và bảo vệ13. Mọi cá nhân đều là chủ thể của QCN, bởi đơn giản họ là thành viên của nhân loại, và bởi nếu bị tước đoạt các quyền đó thì nhân phẩm của cá nhân sẽ bị huỷ hoại và họ sẽ không thể tồn tại và phát triển như một con người. Gần gũi với khái niệm QCN là khái niệm “quyền công dân” (citizen’s rights - QCD). Về bản chất, QCD cũng chính là các QCN nhưng được pháp luật của các quốc gia ghi nhận và bảo vệ một cách cụ thể.
Sự phân biệt giữa QCN và QCD thông thường chỉ thể hiện ở chỗ chủ thể của QCD là những người mang quốc tịch của một quốc gia, còn chủ thể của QCN là tất cả mọi thành viên của nhân loại, không phân biệt quốc tịch 14. Vì chỉ có một số ít QCN trên lĩnh vực chính trị được xem là „dành riêng” cho những người có quốc tịch tư cách công dân của một nhà nước (ví dụ như quyền bầu cử, ứng cử, quyền bỏ phiếu trong các cuộc trưng cầu dân ý…), còn về cơ bản, các QCN khác được áp dụng cho cả những người có hoặc không có tư cách công dân của một quốc gia. Chính vì vậy, trong nhiều tình huống và bối cảnh khái niệm QCN thường được sử dụng để bao quát cả khái niệm QCD15. Ý niệm về QCN đã xuất hiện từ khi loài người hiện diện trên trái đất, tuy nhiên tư tưởng và pháp luật về QCN chỉ được phát triển, hoàn thiện dần dần qua các giai đoạn tiến hoá của nhân loại16.
Phải đến khi Liên quốc thành lập (1945), các QCN mới chính thức được công nhận và bảo vệ bởi pháp luật quốc tế17. Hiện nay QCN đã được cộng đồng quốc tế xem như là những “tiêu 13 Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội, Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, NXB ĐHQG Hà Nội, H.27 14 Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội, Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, NXB ĐHQG Hà Nội, H.29 15 Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội, Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, NXB ĐHQG Hà Nội, H.27 16 Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội, Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, NXB ĐHQG Hà Nội, H.20 17 Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội, Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, NXB ĐHQG Hà Nội, H.27 13 chuẩn chung”, “giá trị chung18, “ngôn ngữ chung”19 của nhân loại. QCN được xem là có đặc tính tự nhiên, mang giá trị phổ quát, vì vậy, mọi quốc gia trên thế giới, bất luận theo thể chế chính trị nào và ở trình độ phát triển như thế nào, đều tự nguyện tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền mà được thể hiện qua hệ thống các văn kiện quốc tế về nhân quyền do Liên hợp quốc thông qua.2 Khái niệm bảo vệ nhân quyền Khái niệm “bảo vệ”, theo Từ điển tiếng Việt, là việc “chống lại mọi sự huỷ hoại, xâm phạm để giữ cho được nguyên vẹn’.