CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ RỦI RO BẰNG MÔ HÌNH VaR ĐỐI VỚI NHÓM CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG 1. Quản lý rủi ro đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng 1. Định nghĩa rủi ro Rủi ro là các sự kiện không chắc chắn có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh, gây ảnh hưởng bất lợi đến việc thực hiện mục tiêu kinh doanh của tổ chức đầu tư (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, 2013). Phân loại rủi ro - Trong đầu tư chứng khoán có 5 loại rủi ro: o Rủi ro thị trường là rủi ro làm thay đổi các giá trị tài sản đang sở hữu theo chiều hướng bất lợi.
o Rủi ro thanh toán là rủi ro xảy ra khi đối tác không thể thanh toán đúng hạn hoặc không thể chuyển giao tài sản đúng hạn như cam kết. o Rủi ro thanh khoản là rủi ro xảy ra khi tổ chức đầu tư không thể thanh toán các nghĩa vụ tài chính đến hạn hoặc không thể chuyển đổi các công cụ tài chính thành tiền mặt với giá trị hợp lý trong ngắn hạn do thiếu hụt thanh khoản trong thị trường. o Rủi ro hoạt động là rủi ro xảy ra do lỗi kỹ thuật, lỗi hệ thống và quy trình nghiệp vụ, lỗi con người trong quá trình tác nghiệp, hoặc do thiếu vốn kinh doanh phát sinh từ các khoản chi phí, lỗ từ hoạt động đầu tư, hoặc do các nguyên nhân khách quan khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- o Rủi ro pháp lý là rủi ro phát sinh từ việc không tuân thủ các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, 2013) - Rủi ro đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng niêm yết tại Việt Nam mà được phân tích xuyên suốt trong luận văn là rủi ro thị trường.
Đó chính là rủi ro khi giá trị của một danh mục đầu tư hoặc danh mục kinh doanh sẽ bị suy giảm bởi sự thay đổi trong các giá chứng khoán. Quản lý rủi ro đối với cổ phiếu ngành ngân hàng Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro. Quản trị rủi ro bao gồm các nội dung: o Nhận dạng – phân tích – đo lường rủi ro; o Kiểm soát – phòng ngừa rủi ro; o Tài trợ rủi ro trường hợp xuất hiện rủi ro. Mô hình VaR là một trong những phương pháp đo lường rủi ro thị trường của cổ phiếu ngành ngân hàng.
Sử dụng mô hình VaR như một cách đo lường và cảnh báo sớm những tổn thất về mặt giá trị của danh mục khi giá của mỗi cổ phiếu ngân hàng biến động giúp nhà đầu tư ước lượng mức độ tổn thất và thực hiện phòng hộ rủi ro. Nhu cầu về quản lý định lượng rủi ro đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng niêm yết tại Việt Nam Năm 1938, Macaulay là người đầu tiên đề xuất phương pháp đánh giá rủi ro của lãi suất trái phiếu. Phương pháp này giúp tính toán kỳ hạn hoàn vốn trung bình của trái phiếu. Năm 1952, Markowitz mở đường cho phương pháp phân tích quan hệ rủi ro- lãi suất qua mô hình phân tích trung bình và phương sai.
Với mức lãi suất mong muốn, phương pháp Markowitz xác định tập hợp các phương án đầu tư tối ưu có độ rủi ro thấp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phương pháp này có ứng dụng rộng rãi trong quản lý các danh mục và cơ cấu đầu tư. Tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong những năm gần đây cho phép phát triển và hoàn thiện một loạt các hệ thống và phương pháp định giá rủi ro, đáng chú ý nhất là phương pháp xác định giá trị chịu rủi ro Value at Risk. Mô hình Value at Risk được phát triển từ năm 1993 và hiện được các tổ chức tài chính trên thế giới áp dụng rộng rãi.
JP Morgan là tổ chức tài chính đi tiên phong về ứng dụng và phát triển mô hình này. Hiệp ước Basel áp dụng đối với các nước trong tổ chức G-10 đã coi Value at Risk là nền tảng để xây dựng nên hành lang pháp lý, tạo ra sân chơi thống nhất và bình đẳng cho các tổ chức tài chính quốc tế. Nhóm cổ phiếu Ngân hàng được tôn vinh là nhóm cổ phiếu vua trên thị trường chứng khoán, từng là nhóm cổ phiếu có mức thanh khoản cao nhất trên thị trường, tuy nhiên thực tế diễn biến thị trường chứng khoán những năm gần đây cho thấy tỷ suất lợi nhuận khi đầu tư vào nhóm cổ phiếu này vẫn ở mức thấp. Đặc biệt khi sức cung cổ phiếu nhóm ngành này ngày càng tăng trong khi tỷ suất cổ tức ở mức thấp càng trở thành nỗi lo của không ít cổ đông nắm giữ và những nhà đầu tư đang có ý định nắm giữ cổ phiếu ngân hàng.
Tuy nhiên kì vọng vào nhóm cổ phiếu ngân hàng trong thời gian tới là rất lớn.khi mà hiệu quả của chính sách vĩ mô đang được phát huy và nền kinh tế đang dần phục hồi. Chính vì lý do trên đã thúc đẩy nhu cầu cấp bách cần có một công cụ định lượng rủi ro nhóm cổ phiếu ngân hàng niêm yết và VaR là công cụ lựa chọn hàng đầu của các tổ chức đầu tư trong và ngoài nước hiện nay. Cơ sở lý thuyết về giá trị chịu rủi ro Value at risk (VaR) 1. Khái niệm mô hình VaR VaR được xác định là phần mất đi lớn nhất của một định chế tài chính với một độ tin cậy cho trước, trong một khoảng thời gian nhất định.
Nếu suy ngẫm kỹ khái niêm này, chúng ta nhận thấy có một số ý quan trọng. Thứ nhất, chúng ta nhận thấy rằng VaR chính là một đo lường về khoản lỗ mà chúng ta không trông đợi để vượt qua. Nếu xảy ra khoản lỗ thực tế lớn hơn VaR thì cũng không có gì nghi vấn về tính chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- xác của mô hình VaR. Thứ hai, VaR được kết hợp với một xác suất cho trước và nếu mức xác suất càng thấp thì VaR sẽ càng lớn.
Thứ ba, VaR có liên quan đến nhân tố thời gian, VaR không thể được so sánh nếu không cùng một thời gian, ví dụ như VaR một ngày (mức lỗ tối đa một ngày) không thể so sánh với VaR một tháng (mức lỗ tối đa một tháng), VaR một năm (mức lỗ tối đa một năm) …. Mức lỗ tối đa trong giai đoạn dài hơn thường lớn hơn giai đoạn thời gian ngắn hơn (John L.Maginn et al. Với các cách nói khác nhau VaR có thể xem là một khoản lỗ nhỏ nhất hay khoản lỗ cao nhất. Xem xét phát biểu sau về VaR cho một danh mục đầu tư: VaR một ngày của một danh mục là 50 triệu đồng với xác suất là 1%.
Ta có thể nói là “có 1% khả năng danh mục sẽ tổn thất ít nhất là 50 triệu đồng” hoặc là “với độ tin cậy 99%, ta tin chắc rằng, tổn thất của danh mục tối đa là 50 triệu đồng”. VaR chủ yếu được xác định trên nền tảng của lý thuyết xác suất và thống kê. Mặt thuận lợi của phương pháp này là cung cấp cho nhà quản lý một con số phản ánh được nguy cơ tổn thất tài chính có thể xảy ra do sự biến động của thị trường. Giả sử rằng một nhà đầu tư quyết định đầu tư một danh mục tài sản P.
Tại thời điểm t, giá trị của danh mục đầu tư là Vt. Sau một khoảng thời gian ∆ t , tức là tại thời điểm t + ∆t thì giá trị của danh mục đầu tư là Vk. Khi đó, giá trị ∆V (k ) = Vk − Vt cho biết sự thay đổi giá trị của danh mục P trong khoảng thời gian ∆ t .1: Đồ thị biểu diễn mức phân vị α Ngưỡng giá trị âm xα này chính là VaR. Như vậy VaR của một danh mục với chu kỳ k và độ tin cậy (1- α)×100% (với 0 < α < 1) là giá trị tại mức phân vị α của hàm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- phân bố fk(x).
Khi đó đại lượng này được ký hiệu là VaR (k, α) và mang giá trị âm (Lê Đức Thọ, 2011). Điều kiện sử dụng mô hình VaR - Giả định thị trường hiệu quả khi tất cả những thông tin đều phản ánh đầy đủ và kịp thời trên giá của cổ phiếu. - Giả định các yếu tố của thị trường không thay đổi nhiều trong khoảng thời gian xác định VaR - Dữ liệu tính VaR đủ dài (thông thường là 250 ngày làm việc) 1. Hạn chế của mô hình VaR Tuy VaR là chuẩn mực mới trong đo lường và giám sát rủi ro thị trường, nó vẫn bao hàm những hạn chế nhất định: - Hạn chế đầu tiên, cũng là hạn chế lớn nhất của VaR, đó là giả định các yếu tố của thị trường không thay đổi nhiều trong khoảng thời gian xác định VaR.
Đây là một hạn chế rất lớn, và trong năm 2007, 2008 đã dẫn đến sự phá sản của một loạt ngân hàng đầu tư trên thế giới, do điều kiện thị trường có những biến động đột ngột vượt xa so với trong quá khứ. - Hạn chế thứ hai, đó là hiệu ứng “đuôi chuông”. Như chúng ta đã biết, do tuân theo quy luật phân phối chuẩn, hàm mật độ phân phối của danh mục có hình dạng quả chuông, và những mức tổn thất lớn nhất, ngoài dự đoán, thường nằm ở phần đuôi bên trái của đồ thị hình chuông này. Ví dụ khi đo lường VaR cho một danh mục với tổng quy mô 640 triệu đồng cho 252 ngày, với độ tin cậy 99%, ngân hàng xác định được ngưỡng tổn thất lớn nhất là 50 triệu đồng.
Tuy nhiên, chỉ cần trong 2 ngày nằm ngoài mức tin cậy (1% trong 252 ngày làm việc), có 1 ngày mức tổn thất của ngân hàng lên tới một giá trị quá ngưỡng, chẳng hạn 300 triệu đồng, ngay lập tức sẽ đẩy danh mục đó phá sản. Đó chính là hạn chế của VaR, với những tổn thất nằm ngoài dự đoán (ngoài khoảng tin cậy), khiến cho hàng loạt ngân hàng đầu tư phá sản khi quá tin tưởng vào VaR. (Trần Mạnh Hà, n. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Các mô hình quản lý rủi ro thị trường khác Bên cạnh VaR, còn có một số mô hình khác nỗ lực giải thích động thái thị trường. Trong đó được sử dụng phổ biến trong quản lý rủi ro thị trường là 2 mô hình Markowitz và mô hình CAPM.