Mở đầu Trong công tác thành lập bản đồ địa hình bằng ảnh hàng không, công đoạn đo nối khống chế ảnh đóng vai trò rất quan trọng. Với sự phát triển của công nghệ hiện nay, lưới khống chế ảnh thường được xây dựng bằng công nghệ GNSS. Tại Việt Nam, các trạm tham chiếu hoạt động liên tục GNSS CORS quốc gia được xây dựng phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học cũng như phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Hiện nay, bộ Quốc Phòng và bộ Tài Nguyên và Môi trường đang triển khai các xây dựng thêm trạm GNSS CORS trên toàn lãnh thổ.
Vì vậy, việc nghiên cứu, ứng dụng, khai thác dữ liệu của các trạm GNSS CORS phục vụ cho các mục đích khác nhau là xu thế tất yếu. Chính vì vậy, đề tài luận văn với tên gọi: "Ứng dụng trạm GNSS hoạt động liên tục trong công tác đo nối khống chế ảnh phục vụ thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000 khu vực tỉnh Quảng Bình" đã được đặt ra để thực hiện. Đề tài có mục tiêu ứng dụng được dữ liệu của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục trong công tác thành lập lưới khống chế ảnh phục vụ thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000 khu vực tỉnh Quảng Bình. Để giải quyết được mục tiêu trên, nội dung nghiên cứu chính của Luận văn là: x - Nghiên cứu tổng quan về công nghệ GNSS phục vụ đo nối khống ảnh.
- Nghiên cứu khả năng khai thác số liệu các trạm tham chiếu hoạt động liên tục trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam. - Xử lý số liệu đo đạc lưới GNSS kết hợp với số liệu của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục phục vụ cho đo nối khống chế ảnh tỷ lệ 1:25.000 Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần vào việc ban hành những quy định kỹ thuật trong khai thác trạm GNSS CORS ở nước ta. Tổng quan tình hình nghiên cứu Lưới khống chế ảnh ngoại nghiệp có thể được thành lập theo nhiều phương pháp. Hiện nay, phương pháp sử dụng công nghệ GNSS được sử dụng phổ biết nhất.
Trong thời gian qua, đo khống chế ảnh ảnh ngoại nghiệp bằng công nghệ GNSS liên tục được hoàn thiện và phát triển theo hướng nhanh, đơn giản và hiệu quả. Trong thực tiễn sản xuất, các đơn vị thuộc Cục Bản đồ quân đội, Bộ Quốc Phòng quản lý đã và đang sử dụng dữ liệu của các điểm GNSS CORS (MCRS, BDRS, NARS, DNRS, VTRS, PQRS và TSRS) cho các mục đích như thành lập lưới khống chế địa chính, lưới khống chế ảnh đáp ứng việc thành lập các loại tỷ lệ bản đồ. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản quy định nào về việc khai thác sử dụng dữ liệu trạm GNSS CORS quốc gia cũng như các quy định kỹ thuật đối với từng loại lưới đáp ứng cho từng nhiệm vụ cụ thể. Trong tương lai gần, khi hệ thống các trạm GNSS CORS quốc gia sẽ được xây dựng xong thì việc khai thác, ứng dụng dữ liệu GNSS CORS trong nghiên cứu khoa học cũng như thực tiễn sản xuất là điều tất yếu.
Thực tiễn này sẽ nảy sinh nhu cầu ban hành các văn bản Nhà nước quy định về khai thác sử dụng dữ liệu trạm GNSS CORS quốc gia. xi Bắt nhịp với xu thế đó, đề tài luận văn sẽ nghiên cứu ứng dụng dữ liệu của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục GNSS CORS trong công tác đo nối khống chế ảnh phục vụ cho việc thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần vào việc khai thác dữ liệu GNSS CORS trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam. Khả năng khai thác dữ liệu các trạm GNSS hoạt động liên tục ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 3.
Các trạm GNSS hoạt động liên tục ở Việt Nam Trong thời gian qua, bộ Tài nguyên môi trường đã thiết lập được một số các trạm tham chiếu hoạt động liên tục trên lãnh thổ nước ta. Hiện nay, Bộ đang tiếp tục thực hiện dự án "Xây dựng mạng lưới GPS cố định (CORS) trên lãnh thổ Việt Nam". Dự án được thiết kế gồm 65 trạm GNSS CORS hình thành một mạng lưới các trạm quan trắc trải trên khắp đất nước, thu liên tục số liệu từ các hệ thống định vị toàn cầu bằng vệ tinh GNSS như GPS, GLONASS, Galileo,…Dự án được thực hiện vào năm 2016, theo dự kiến dự án sẽ được hoàn thành vào năm 2020. Bên cạnh đó, từ trước năm 2016, Cục Bản đồ trực thuộc BTTM đã xây dựng và đưa vào sử dụng 06 trạm cơ sở thường trực DGNSS/CORS.
Năm 2016, Cục đã lắp đặt thêm 07/35 trạm GNSS CORS khu vực Miền Bắc thuộc dự án "Xây dựng các trạm GNSS CORS phủ trùm lãnh thổ Việt Nam phục vụ cho các nhiệm vụ của Quân đội". Dự kiến đến năm 2018 sẽ hoàn thành lắp đặt toàn bộ 35 trạm GNSS CORS trên phạm vi lãnh thổ và trên một số đảo của Việt Nam. Ngoài các trạm tham chiếu hoạt động liên tục do Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Quốc Phòng quản lý nêu trên, một số đơn vị cũng đã xây dựng xii một số trạm nhỏ lẻ nhỏ lẻ, cấu hình đơn giản nên hầu như không có khả năng nâng cấp để trở thành trạm GNSS CORS quốc gia trong tương lai. Hướng khai thác dữ liệu các trạm GNSS hoạt động liên tục nhằm xác định tọa độ điểm khống chế ảnh Trong phạm vi xác định tọa độ và độ cao điểm khống chế ảnh, khai thác số liệu trạm GNSS CORS có thể được thực hiện dựa theo hai hướng: - Hướng 1: Các trạm GNSS CORS đóng vai trò như các điểm khống chế tọa độ, độ cao Nhà nước truyền thống.
Các máy thu GNSS chỉ cần đặt tại các điểm khống chế ảnh của lưới thực nghiệm để thu tín hiệu vệ tinh. Tọa độ của các điểm khống chế ảnh được xác định thông qua việc xử lý dữ liệu của lưới GNSS thực nghiệm kết hợp với dữ liệu của các trạm tham chiếu hoạt động liên tục trong cùng thời điểm. -Hướng 2: Các trạm GNSS CORS tạo thành mạng lưới đo động thời gian thực NRTK Tập hợp các trạm GNSS CORS sẽ tạo nên mạng lưới đo động thời gian thực NRTK. Nguyên tắc của NRTK bắt đầu với tất cả các trạm tham chiếu trong mạng này quan sát trực tuyến liên tục các vệ tinh bằng hệ thống phần mềm được cài đặt trên hệ thống máy chủ của NRTK trung tâm.
Mục đích của NRTK là để giảm thiểu ảnh hưởng của sai số phụ thuộc vào khoảng cách và vị trí được tính toán trong phạm vi giới hạn của mạng lưới. Căn cứ vào điều kiện thực tiễn về hạ tầng hệ thống trạm tham chiếu hoạt động liên tục, đề tài sử dụng các trạm GNSS CORS với vai trò như là điểm khống chế tọa độ, độ cao Nhà nước truyền thống (hướng 1). Ứng dụng các trạm GNSS hoạt động liên tục để đo nối khống chế ảnh khu vực tỉnh Quảng Bình xiii 4. Giới thiệu khu vực thực nghiệm Khu vực thực nghiệm thuộc tỉnh Quảng Bình.
Lưới GNSS được thi công phục vụ cho công tác đo nối khống chế ảnh thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000 gồm có 11 điểm, trong đó: - 02 điểm là các điểm GNSS CORS đó là NARS và DNRS; - 09 điểm khống chế ảnh có ký hiệu: CN-12, CN-13, CN-18, CN-19, CN-21, CN-23, CN-24, CN-28 và CN-29. Mục đích, yêu cầu và phương pháp thực nghiệm Phần thực nghiệm nhằm xác định tọa độ và độ cao của các điểm khống chế ảnh đáp ứng được yêu cầu phục vụ cho việc thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000 khu vực tỉnh Quảng Bình trên cơ sở sử dụng dữ liệu GNSS CORS. Yêu cầu về độ chính xác cần đạt được của lưới như sau: - Sai số vị trí mặt phẳng của điểm bình sai không vượt quá 2. - Sai số độ cao của điểm sau bình sai phải nhỏ hơn hoặc 1.
Hiện nay chưa có quy định kỹ thuật về việc sử dụng dữ liệu của các trạm GNSS CORS trong công tác đo nối khống chế ảnh. Do các trạm GNSS CORS có khoảng cách đến khu vực thực nghiệm rất lớn( hơn 500 km), nên lưới thực nghiệm khu vực tỉnh Quảng Bình đã được đo đạc với thời gian 150 phút.Số liệu lưới được xử lý theo ba phương án: - Phương án 1: Lưới được xử lý số liệu với thời gian ca đo là 150 phút. - Phương án 2: Lưới được xử lý số liệu với thời gian ca đo là 120 phút. - Phương án 3: Lưới được xử lý số liệu với thời gian ca đo là 90 phút.
Đánh giá kết quả đạt được Từ các kết quả khi bình sai lưới thực nghiệm theo ba phương án đã lập được các bảng so sánh như sau: Bảng 3. Bảng sai số vị trí điểm Tên mp (m) STT điểm Phương án 1 Phương án 2 Phương án 3 1 CN-12 0.13 cho thấy, độ chính xác về vị trí mặt phẳng của các điểm đều nhỏ hơn giới hạn cho phép 2.5m, vì vậy lưới bình sai theo cả 3 phương án đều đáp ứng được yêu cầu cho việc thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25. Bảng sai số độ cao Tên mh (m) STT điểm Phương án 1 Phương án 2 Phương án 3 1 CN-12 0.95 xv Tên mh (m) STT điểm Phương án 1 Phương án 2 Phương án 3 6 CN-23 0.815 Từ số liệu thống kê ở bảng 3.15 cho thấy, độ chính xác xác định độ cao theo phương án 1 là chính xác nhất, phương án 3 là kém nhất trong 3 phương án thực hiện. Trong 3 phương án xử lý số liệu, chỉ có phương án 1 và phương án 2 đáp ứng yêu cầu độ chính xác đã đề ra cho việc thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000 tại khu vực thực nghiệm.
Kết luận Qua quá trình nghiên cứu cơ sở lý thuyết và tính toán thực nghiệm, một số kết luận được rút ra như sau: 1. Tọa độ và độ cao của các điểm khống chế ảnh khu vực tỉnh Quảng Bình phục vụ cho việc thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000 đã được xác định trên cơ sở sử dụng số liệu của các trạm GNSS CORS (NARS và DNRS). Kết quả tính toán bình sai lưới thực nghiệm cho thấy: - Theo đúng quy luật, lưới được bình sai với thời gian ca đo 150 phút cho độ chính xác tốt hơn 120 phút, 120 phút cho độ chính xác tốt hơn 90 phút. - Nếu chỉ xét về độ chính xác xác định tọa độ của điểm khống chế ảnh phục vụ cho việc đo vẽ thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000, thời gian ca đo của lưới trong cả 3 trường hợp 90 phút, 120 phút hay 150 phút đều đáp ứng yêu cầu.