CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NHẬN DẠNG BIỂN KIỂM SOÁT PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG Trong chương này, tác giả xin được trình bày tổng quan về nhận dạng biển kiểm soát phương tiện giao thông, vai trò cũng như thực trạng về nhận dạng biển kiểm soát giao thông ở Việt Nam và trên thế giới 1. Vai trò nhận dạng biển kiểm soát phương tiện giao thông trong công tác điều tra, khám phá các vụ việc mang tính hình sự của lực lượng Kỹ thuật hình sự Trong quá trình phát triển của con người, những cuộc cách mạng về công nghệ đóng một vai trò rất quan trọng, chúng làm thay đổi từng ngày từng giờ cuộc sống của con người, theo hướng hiện đại hơn. Đi đôi với quá trình phát triển của con người, tình hình tội phạm và các vụ việc mang tính hình sự đang ngày càng gia tăng, đồng thời với sự phát triển không ngừng của các ngành Khoa học kỹ thuật dẫn đến phương thức thủ đoạn phạm tội đang ngày càng tinh vi, khó nắm bắt hơn và hầu hết đều có liên quan đến các phương tiên giao thông.
Ở các nước trên thế giới và nước ta hiện nay, việc nhận diện biển kiểm soát phương tiện giao thông đã được triển khai phổ biến trong lĩnh vực an ninh. Cụ thể ở Việt Nam, năm 2012 là năm an toàn giao thông (ATGT). Nhiều công trình nghiên cứu của các bộ, ngành đang được thực hiện để kiềm chế tai nạn giao thông (TNGT), giảm ùn tắc giao thông. Trong đó, đề tài “Ứng dụng phần mềm nhận dạng biển số trong quản lý phương tiện và phát hiện vi phạm giao thông bằng hình ảnh” của Cục Quản lý khoa học - công nghệ và môi trường (Tổng cục Hậu cần kỹ thuật - Bộ công an), phối hợp Công ty cổ phần Biển Bạc là một trong những đề tài đang được Áp dụng, triển khai tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước.
Vấn đề nhược điểm trong quá trình sử dụng phần mềm này là cần sự hỗ trợ của một hệ thống camera chuyên biệt, có tốc độ chụp hình cao và độ phân giải lớn. Trong khi đó việc sử dụng dữ liệu từ camera an ninh thông thường để nhận diện biển số lại Luan van 3 chưa được hiệu quả. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Xây dựng ứng dụng nhận diện biển kiểm soát phương tiện giao thông” hướng đến cụ thể trong việc sử dụng dữ liệu hình ảnh từ các camera an ninh thông thường 1. Thực trạng về nhận dạng biển kiểm soát phương tiện giao thông ở Việt Nam và trên thế giới Trên thế giới nói chung hay Việt Nam nói riêng, bài toán nhận diện biển kiểm soát phương tiện giao thông vẫn là một bài toán hết sức được quan tâm.
Kết quả nghiên cứu bài toán là các giải pháp cho các công nghệ tự động, giải pháp quản lý bãi xe, quản lý an ninh, theo dõi tội phạm,. Nhìn chung các giải pháp hiện nay đang rất phát triển song vẫn còn nhiều hạn chế. Những giải pháp nổi tiếng trên thế giới như ALPR, Vino đều đáp ứng được hầu hết các nhu cầu cơ bản của các bài toán. Nhược điểm còn tồn tại trong các giải pháp này là chưa hỗ trợ hết tất cả các loại biển số trên thế giới.1: Giải pháp OpenALPR trong nhận diện biển kiểm soát Tại Việt Nam thị trường giải pháp nhận diện biển kiểm soát cũng rất phong phú, đi đầu trong lĩnh vực này có thể kể đến như Silver Sea, DNC Tech.
Tất cả các giải pháp này đều có điểm chung là xử lý chuyên về biển số Việt Nam nên có tốc độ xử lý rất nhanh và độ chính xác rất cao đối với biển kiểm soát Việt Nam Luan van 4 CHƯƠNG 2. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XỬ LÝ, NHẬN DẠNG ẢNH Trong chương này tác giả sẽ giới thiệu tổng quan về các vấn đề trong xử lý ảnh; nhận dạng ảnh; các phương pháp, thuật toán xử lý ảnh; Ứng dụng của trí tuệ nhân tạo trong xử lý ảnh; 2. Tổng quan về xử lý ảnh Xử lý ảnh là một lĩnh vực mang tính khoa học và công nghệ. Nó là một ngành khoa học mới mẻ so với nhiều ngành khoa học khác nhưng tốc độ phát triển của nó rất nhanh, kích thích các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng, đặc biệt là máy tính chuyên dụng riêng cho nó.
Xử lý ảnh được đưa vào giảng dạy ở bậc đại học ở nước ta khoảng chục năm nay. Nó là môn học liên quan đến nhiều lĩnh vực và cần nhiều kiến thức cơ sở khác. Đầu tiên phải kể đến Xửlý tín hiệu số là một môn học hết sức cơ bản cho xử lý tín hiệu chung, các khái niệm về tích chập, các biến đổi Fourier, biến đổi Laplace, các bộ lọc hữu hạn… Thứ hai, các công cụ toán như Đại số tuyến tính, xác suất, thống kê. Một số kiến thứ cần thiết như trí tuệ nhân tao, Mạng nơ ron nhân tạo cũng được đề cập trong quá trình phân tích và nhận dạng ảnh.
Các phương pháp xử lý ảnh bắt đầu từ các ứng dụng chính: nâng cao chất lượng ảnh và phân tích ảnh. Ứng dụng đầu tiên được biết đến là nâng cao chất lượng ảnh báo được truyền qua cáp từ Luân đôn đến New York từ những năm 1920. Vấn đề nâng cao chất lượng ảnh có liên quan tới phân bố mức sáng và độ phân giải của ảnh. Việc nâng cao chất lượng ảnh được phát triển vào khoảng những năm 1955.
Điều này có thể giải thích được vì sau thế chiến thứ hai, máy tính phát triển nhanh tạo điều kiện cho quá trình xử lý ảnh sô thuận lợi. Năm 1964, máy tính đã có khả năng xử lý và nâng cao chất lượng ảnh từ mặt trăng và vệ tinh Ranger 7 của Mỹ bao gồm: làm nổi đường biên, lưu ảnh. Từ năm 1964 đến nay, các phương tiện xử lý, nâng cao chất lượng, nhận dạng ảnh phát triển không ngừng. Các phương pháp tri thức nhân tạo Luan van 5 như mạng nơ ron nhân tạo, các thuật toán xử lý hiện đại và cải tiến, các công cụ nén ảnh ngày càng được áp dụng rộng rãi và thu nhiều kết quả khả quan.1: Các bước cơ bản trong xử lý ảnh Sơ đồ này bao gồm: a) Phần thu nhận ảnh Ảnh có thể nhận qua camera màu hoặc đen trắng.
Thường ảnh nhận qua camera là ảnh tương tự (loại camera ống chuẩn CCIR với tần số 1/25, mỗi ảnh 25 dòng), cũng có loại camera đã số hoá (như loại CCD – Change Coupled Device) là loại photodiot tạo cường độ sáng tại mỗi điểm ảnh. Camera thường dùng là loại quét dòng ; ảnh tạo ra có dạng hai chiều. Chất lượng một ảnh thu nhận được phụ thuộc vào thiết bị thu, vào môi trường (ánh sáng, phong cảnh) b) Phần tiền xử lý ảnh Sau bộ thu nhận, ảnh có thể nhiễu độ tương phản thấp nên cần đưa vào bộ tiền xử lý để nâng cao chất lượng. Chức năng chính của bộ tiền xử lý là lọc nhiễu, nâng độ tương phản để làm ảnh rõ hơn, nét hơn.
c) Phần phân đoạn ảnh Phân vùng ảnh là tách một ảnh đầu vào thành các vùng thành phần để biểu diễn phân tích, nhận dạng ảnh. Ví dụ: để nhận dạng chữ (hoặc mã vạch) trên phong bì thư cho mục đích phân loại bưu phẩm, cần chia các câu, chữ về địa chỉ hoặc tên người Luan van 6 thành các từ, các chữ, các số (hoặc các vạch) riêng biệt để nhận dạng. Đây là phần phức tạp khó khăn nhất trong xử lý ảnh và cũng dễ gây lỗi, làm mất độ chính xác của ảnh. Kết quả nhận dạng ảnh phụ thuộc rất nhiều vào công đoạn này.
d) Biểu diễn ảnh Đầu ra ảnh sau phân đoạn chứa các điểm ảnh của vùng ảnh (ảnh đã phân đoạn) cộng với mã liên kết với các vùng lận cận. Việc biến đổi các số liệu này thành dạng thích hợp là cần thiết cho xử lý tiếp theo bằng máy tính. Việc chọn các tính chất để thể hiện ảnh gọi là trích chọn đặc trưng (Feature Selection) gắn với việc tách các đặc tính của ảnh dưới dạng các thông tin định lượng hoặc làm cơ sở để phân biệt lớp đối tượng này với đối tượng khác trong phạm vi ảnh nhận được. Ví dụ: trong nhận dạng ký tự trên phong bì thư, chúng ta miêu tả các đặc trưng của từng ký tự giúp phân biệt ký tự này với ký tự khác.
e) Nhận dạng và nội suy Nhận dạng ảnh là quá trình xác định ảnh. Quá trình này thường thu được bằng cách so sánh với mẫu chuẩn đã được học (hoặc lưu) từ trước. Nội suy là phán đoán theo ý nghĩa trên cơ sở nhận dạng. Ví dụ: một loạt chữ số và nét gạch ngang trên phong bì thư có thể được nội suy thành mã điện thoại.
Có nhiều cách phân loai ảnh khác nhau về ảnh. Theo lý thuyết về nhận dạng, các mô hình toán học về ảnh được phân theo hai loại nhận dạng ảnh cơ bản: Nhận dạng theo tham số và nhận dạng theo cấu trúc. Một số đối tượng nhận dạng khá phổ biến hiện nay đang được áp dụng trong khoa học và công nghệ là: nhận dạng ký tự (chữ in, chữ viết tay, chữ ký điện tử), nhận dạng văn bản (Text), nhận dạng vân tay, nhận dạng mã vạch, nhận dạng mặt người… f) Cơ sở tri thức Như đã nói ở trên, ảnh là một đối tượng khá phức tạp về đường nét, độ sáng tối, dung lượng điểm ảnh, môi trường để thu ảnh phong phú kéo theo nhiễu. Trong nhiều khâu xử lý và phân tích ảnh ngoài việc đơn giản hóa các phương pháp toán học đảm bảo tiện lợi cho xử lý, người ta mong muốn bắt chước quy trình tiếp nhận và xử lý Luan van 7 ảnh theo cách của con người.
Trong các bước xử lý đó, nhiều khâu hiện nay đã xử lý theo các phương pháp trí tuệ con người. Vì vậy, ở đây các cơ sở tri thức được phát huy. Trong tài liệu, chương 6 về nhận dạng ảnh có nêu một vài ví dụ về cách sử dụng các cơ sở tri thức đó g) Biểu diễn ảnh Sau khi số hoá sẽ được lưu vào bộ nhớ, hoặc chuyển sang các khâu tiếp theo để phân tích. Nếu lưu trữ ảnh trực tiếp từ các ảnh thô, đòi hỏi dung lượng bộ nhớ cực lớn và không hiệu quả theo quan điểm ứng dụng và công nghệ.
Thông thường, các ảnh thô đó được đặc tả (biểu diễn) lại (hay đơn giản là mã hoá) theo các đặc điểm của ảnh được gọi là các đặc trưng ảnh (Image Features) như: biên ảnh (Boundary), vùng ảnh (Region). Một số phương pháp biểu diễn thường dùng: - Biểu diễn bằng mã chạy (Run-Length Code) - Biểu diễn bằng mã xích (Chaine -Code) - Biểu diễn bằng mã tứ phân (Quad-Tree Code) 2.