Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu Chương 2: Tổng quan về xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chương 4: Vận dụng mô hình Logistic và Neural Network trong xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chương 5: Kết luận và kiến nghị nhằm ứng dụng hiệu quả mô hình vào xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Cơ sở lý luận về xếp hạng tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái niệm xếp hạng tín dụng Thuật ngữ XHTD được sử dụng để chỉ việc thực hiện đánh giá, xếp hạng khách hàng vay vốn tại các tổ chức tín dụng. Tại Việt Nam, thuật ngữ này có thể được dịch và sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau như xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp, xếp loại doanh nghiệp, chấm điểm tín dụng doanh nghiệp, xếp hạng khách hàng,…Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng thuật ngữ “Xếp hạng tín dụng”. XHTD là những ý kiến đánh giá hiện tại về rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng, khả năng và thiện ý của chủ thể đi vay trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn (Standard & Poor, 2006). Theo Moody's (2016), XHTD là những ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vay dựa trên những phân tích tín dụng cơ bản và biểu hiện thông qua hệ thống ký hiệu từ Aaa đến C.
Với quan điểm của Fitch (2014) thì xếp hạng tín dụng là đánh giá mức độ khả năng thực hiện các nghĩa vụ nợ như lãi suất, cổ tức ưu đãi, các khoản bảo hiểm hay các khoản phải trả khác của một tổ chức. Phương pháp xếp hạng tín dụng của Fitch là sự kết hợp của cả yếu tố tài chính và phi tài chính. Vì vậy, chỉ số đánh giá còn cho thấy khả năng sinh lợi tương lai của tổ chức được đánh giá. Đứng trên góc độ ngân hàng, xếp hạng tín dụng được hiểu là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng thông qua hệ thống xếp hạng nhằm thể hiện khả năng trả nợ của đối tượng được cấp tín dụng để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn (Nguyễn Đức Hưởng, 2012).
Như vậy, XHTD là quá trình thu thập, xử lý và đánh giá chất lượng thông tin khách hàng nhằm mục tiêu hạn chế rủi ro tín dụng. Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng đối tượng khách hàng và được xác định bằng thang điểm, dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn tại thời điểm xếp hạng. Thông qua quá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 trình này, NHTM có thể đánh giá được bản chất hoạt động kinh doanh cả về nguồn lực, tiềm năng, lợi thế kinh doanh cũng như những rủi ro tiềm ẩn về khả năng trả nợ của doanh nghiệp để có thể đưa ra quyết định cho vay, chính sách ưu đãi phù hợp, ngăn ngừa kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng.2 Vai trò của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Đối với ngân hàng thƣơng mại Nhu cầu về sử dụng kết quả XHTD của các tổ chức tín dụng (TCTD) ngày càng nhiều, cho thấy được vai trò quan trọng của XHTD trong việc phòng ngừa rủi ro tín dụng ngân hàng. Cụ thể, XHTD là cơ sở cho việc lựa chọn khách hàng cho vay bởi thông qua việc đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng vay vốn, đo lường mức độ rủi ro tín dụng, khả năng trả nợ của doanh nghiệp, TCTD sẽ đưa ra quyết định cho vay hiệu quả nhất (Nguyễn Đức Hưởng, 2012).
Đồng thời, kết quả XHTD cũng là cơ sở để xây dựng chính sách tín dụng, danh mục tín dụng, bởi thông qua kết quả xếp hạng TCTD sẽ phân loại khách hàng theo từng tiêu chí như ngành nghề kinh doanh, quy mô, địa bàn hoạt động, mức độ rủi ro để từ đó xây dựng danh mục tín dụng cho từng thời kỳ, đồng thời có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ đối với những khoản vay có xếp hạng thấp để hạn chế rủi ro xảy ra. Hệ thống XHTD của NHTM cung cấp những dự đoán về khả năng xảy ra rủi ro tín dụng của khách hàng vay, là công cụ giúp NHTM quản trị rủi ro tín dụng, kiểm soát mức độ tín nhiệm khách hàng, thiết lập mức lãi suất cho vay phù hợp tương ứng với dự báo mức độ rủi ro của từng nhóm khách hàng. NHTM có thể đánh giá hiệu quả danh mục cho vay thông qua giám sát sự thay đổi dư nợ và phân loại nợ trong từng nhóm khách hàng đã được xếp hạng, qua đó điều chỉnh danh mục theo hướng ưu tiên nguồn lực vào những nhóm khách hàng an toàn. Cụ thể hơn, kết quả XHTD được ứng dụng vào: - Hỗ trợ phê duyệt tín dụng: Cải thiện tính chính xác và hiệu lực của việc ra quyết định cấp tín dụng, cung cấp phương tiện hỗ trợ để quá trình này trở nên hiệu quả, tiết kiệm thời gian, chi phí và giảm bớt sự can thiệp từ con người.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Thực hiện quản trị rủi ro tín dụng: XHTD nội bộ là một công cụ để đánh giá mức rủi ro của khách hàng. Nhờ tích hợp các nguyên tắc, khung chính sách và tiêu chuẩn tín dụng căn bản của ngân hàng, hệ thống XHTD là căn cứ độc lập để NHTM đánh giá hiệu quả quá trình quản trị rủi ro của các bộ phận liên quan, bảo đảm việc cấp tín dụng được quản lý phù hợp, các tài sản có rủi ro tín dụng nằm trong giới hạn, thống nhất với các tiêu chuẩn thận trọng và khả năng phát hiện rủi ro sớm. - Hỗ trợ xác định lãi suất cho khoản tín dụng: Mức lãi suất áp dụng đối với từng khách hàng phải phù hợp, đảm bảo có lợi nhuận và đủ để bồi hoàn tổn thất tín dụng. XHTD phân loại các mức độ rủi ro và là một trong những căn cứ tin cậy để xác định lãi suất cho các khoản tín dụng, theo nguyên tắc mức XHTD thấp (rủi ro cao) có mức lãi suất cao và ngược lại.
- Hỗ trợ quản lý và giám sát khách hàng: Việc XHTD làm cơ sở cho việc phân loại và giám sát danh mục tín dụng, xác định khi nào cần có sự giám sát hoặc có các hoạt động điều chỉnh khoản tín dụng phù hợp. Cụ thể, những khoản vay có mức XHTD thấp, rủi ro cao cần phải được chú trọng theo dõi, kiểm soát, đánh giá thường xuyên. Ngược lại, những khách hàng tốt với mức XHTD cao sẽ được ưu đãi hơn trong các quan hệ giao dịch. Đối với nhà đầu tƣ Quá trình XHTD sẽ căn cứ vào các chỉ tiêu tài chính của các báo cáo tài chính và chỉ tiêu phi tài chính như quản trị điều hành, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp từ đó đánh giá được tiềm năng sinh lợi, mức độ an toàn vốn khi đầu tư vào một doanh nghiệp.
Kết quả XHTD giúp nhà đầu tư có thêm công cụ đánh giá rủi ro tín dụng, giảm thiểu chi phí thu thập, phân tích, giám sát khả năng trả nợ của các tổ chức phát hành công cụ nợ, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý. Đối với doanh nghiệp Các doanh nghiệp có kết quả XHTD tốt sẽ tạo được lòng tin đối với nhà đầu tư, giúp các công ty mở rộng thị trường vốn trong và ngoài nước, giúp duy trì sự ổn định nguồn tài trợ. Những công ty được xếp hạng cao dễ dàng quảng bá hình ảnh, nâng cao thương hiệu của mình khi phát hành trái phiếu, từ đó duy trì được nguồn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 vốn trong nhiều hoàn cảnh. XHTD càng cao thì chi phí vay càng thấp, các nhà đầu tư sẵn sàng nhận một mức lãi suất thấp hơn cho một chứng khoán an toàn.
Đối với Chính phủ và thị trƣờng tài chính Kết quả xếp hạng tín dụng là công cụ giúp các ngân hàng quản trị rủi ro từ đó tăng trưởng tín dụng bền vững, đảm bảo sự thông suốt của thị trường tài chính trong nước. XHTD cung cấp tín hiệu để cảnh báo rủi ro trong hoạt động và triển vọng phát triển của các doanh nghiệp, giúp thị trường tài chính minh bạch hơn, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế và tăng cường khả năng giám sát thị trường của Chính phủ. Trong điều kiện hội nhập với thị trường kinh tế thế giới, việc minh bạch hóa thông tin tín nhiệm sẽ tạo được lòng tin đối với nhà đầu tư nước ngoài, giúp doanh nghiệp có cơ hội phát triển.3 Nguyên tắc xếp hạng tín dụng Theo Trần Đắc Sinh (2002), XHTD được thực hiện dựa trên nguyên tắc chủ yếu bao gồm phân tích tín nhiệm trên cơ sở ý thức và thiện chí trả nợ của khách hàng trong lịch sử, đánh giá tiềm năng trả nợ thông qua đo lường năng lực tài chính của khách hàng, từ đó đánh giá rủi ro toàn diện và thống nhất dựa vào hệ thống ký hiệu xếp hạng. Trong phân tích xếp hạng tín dụng cũng cần chú ý đến phân tích định tính để bổ sung cho những thiếu sót của phân tích định lượng.
Các chỉ tiêu phân tích có thể thay đổi phù hợp với yếu tố môi trường chung. Việc XHTD được thực hiện dựa trên những nguyên tắc cơ bản như sau: - Phân tích dựa trên các yếu tố định tính và định lượng: + Các chỉ tiêu định lượng là những chỉ tiêu đo lường bằng con số cụ thể như các chỉ tiêu khả năng thanh toán, tỷ suất sinh lợi, P/E… + Các chỉ tiêu định tính là những quan sát không đo lường được bằng số, như vị thế cạnh tranh, môi trường chính trị, môi trường kinh tế, văn hóa… - Việc phân tích được tiến hành bằng phương pháp trên - xuống theo trình tự như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.