Luận văn thạc sĩ: Ứng dụng mô hình quản lý JIT trong tổ chức thi công công trình thủy lợi

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ứng dụng mô hình quản lý tức thời jit just in time management trong công tác tổ chức thi công công, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Học viện Kỹ thuật Quân sự

Chuyên ngành

Quản lý xây dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

91
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về mô hình JIT trong quản lý thi công

Mô hình JIT (Just in Time) là một phương pháp quản lý sản xuất và thi công nhằm tối ưu hóa quy trình làm việc, giảm thiểu lãng phí và nâng cao hiệu quả. Trong bối cảnh thi công công trình thủy lợi, việc áp dụng JIT giúp cải thiện quy trình quản lý thi công, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý. Mô hình này tập trung vào việc cung cấp đúng số lượng vật liệu, đúng thời điểm và đúng nơi cần thiết, giúp giảm thiểu chi phí lưu kho và tăng cường tính linh hoạt trong quản lý dự án. Theo nghiên cứu, việc áp dụng JIT trong thi công công trình thủy lợi không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao chất lượng công trình. Các công trình thủy lợi thường có tính chất phức tạp và yêu cầu cao về thời gian và chất lượng, do đó, việc áp dụng JIT là rất cần thiết để đảm bảo tiến độ và chất lượng công trình.

1.1. Đặc điểm của công trình thủy lợi

Công trình thủy lợi có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm tính chất chịu tác động của nước và yêu cầu về kỹ thuật cao. Các công trình này thường phải đối mặt với nhiều rủi ro như lũ lụt, xói mòn và sự thay đổi của môi trường. Do đó, việc áp dụng JIT trong quản lý thi công công trình thủy lợi cần phải xem xét kỹ lưỡng các yếu tố này. Mô hình JIT giúp tối ưu hóa quy trình thi công, từ việc cung ứng vật liệu đến tổ chức lao động, nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả. Việc áp dụng JIT không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn đảm bảo tiến độ thi công, từ đó nâng cao chất lượng công trình. Các nghiên cứu cho thấy rằng, khi áp dụng JIT, các công trình thủy lợi có thể hoàn thành sớm hơn và với chi phí thấp hơn so với phương pháp truyền thống.

II. Phân tích hiệu quả của mô hình JIT trong thi công

Việc áp dụng mô hình JIT trong quản lý thi công công trình thủy lợi đã cho thấy nhiều lợi ích rõ rệt. Đầu tiên, mô hình này giúp tối ưu hóa quản lý nguồn lực, từ nhân lực đến vật tư. Nhờ vào việc cung cấp vật liệu đúng lúc, đúng nơi, JIT giúp giảm thiểu tình trạng tồn kho, từ đó giảm chi phí lưu kho và chi phí phát sinh khác. Thứ hai, JIT còn giúp cải thiện quản lý thời gian, đảm bảo rằng các công đoạn thi công diễn ra liên tục và không bị gián đoạn. Điều này đặc biệt quan trọng trong các công trình thủy lợi, nơi mà thời gian thi công có thể ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng công trình. Cuối cùng, việc áp dụng JIT còn giúp nâng cao chất lượng công trình thông qua việc kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào và quy trình thi công.

2.1. Tối ưu hóa quy trình cung ứng vật liệu

Một trong những yếu tố quan trọng trong việc áp dụng JIT là tối ưu hóa quy trình cung ứng vật liệu. Việc này không chỉ giúp giảm thiểu chi phí mà còn đảm bảo rằng vật liệu luôn sẵn sàng khi cần thiết. Các công trình thủy lợi thường yêu cầu một lượng lớn vật liệu, do đó, việc quản lý tốt quy trình cung ứng là rất cần thiết. Mô hình JIT khuyến khích việc sử dụng các hệ thống kéo (Pull system) để đảm bảo rằng vật liệu được cung cấp theo nhu cầu thực tế của công trình. Điều này giúp giảm thiểu tình trạng lãng phí và đảm bảo rằng các công đoạn thi công diễn ra một cách liên tục và hiệu quả.

III. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng JIT

Để nâng cao hiệu quả của mô hình JIT trong quản lý thi công công trình thủy lợi, cần có một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức cho đội ngũ nhân viên về mô hình JIT và các phương pháp quản lý hiện đại. Việc này sẽ giúp họ hiểu rõ hơn về lợi ích của JIT và cách áp dụng vào thực tiễn. Thứ hai, cần thiết lập các hệ thống thông tin quản lý hiện đại để theo dõi và kiểm soát quy trình thi công. Hệ thống này sẽ giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng quan về tiến độ thi công và tình trạng cung ứng vật liệu. Cuối cùng, cần xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các nhà cung cấp để đảm bảo rằng vật liệu luôn được cung cấp đúng thời điểm và chất lượng.

3.1. Tăng cường đào tạo nhân lực

Đào tạo nhân lực là một yếu tố quan trọng trong việc áp dụng thành công mô hình JIT. Cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quản lý thi công và mô hình JIT cho các kỹ sư và công nhân. Việc này không chỉ giúp họ nắm vững kiến thức lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào thực tiễn. Các chương trình đào tạo nên bao gồm các nội dung về quy trình cung ứng vật liệu, quản lý thời gian và chất lượng công trình. Đào tạo nhân lực sẽ giúp nâng cao hiệu quả thi công và đảm bảo rằng các công trình thủy lợi được hoàn thành đúng tiến độ và chất lượng.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ ứng dụng mô hình quản lý tức thời jit just in time management trong công tác tổ chức thi công công trình thủy lợi

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI VÀ MÔ HÌNH QUẢN LÍ TỨC THỜI JIT - JUST IN TIME MANAGEMENT. Giới thiệu chung về hoạt động xây dựng tại Việt Nam.1 Tổng quan về ngành xây dựng tại Việt Nam. Trên thế giới, ngành xây dựng luôn được coi là ngành kinh tế quan trọng, là bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân. Ở nhiều nước trên thế giới, trong bảng xếp hạng các ngành tạo nguồn thu chủ yếu và sử dụng nhiều lao động của nền kinh tế ta luôn thấy có tên ngành xây dựng.

Ở Việt Nam cũng vậy. Những số liệu thống kê chính thức trong nhiều năm đã cho phép chúng ta cùng hình dung ra các nét cơ bản nhất của ngành xây dựng. Theo “ Báo cáo tại Hội nghị trực tuyến ngành xây dựng này 15/1/2016” - Giá trị sản xuất ngành Xây dựng năm 2015: [1] + Theo giá hiện hành: đạt khoảng 974,4 nghìn tỷ đồng (tăng 11,4% so với năm 2014; tăng 75,7% so với năm 2010); + Tính theo giá so sánh 2010: đạt khoảng 777,5 nghìn tỷ đồng (tăng 11,2% so với năm 2014; tăng 40,2% so với năm 2010). - Tỷ lệ đô thị hóa cả nước đạt khoảng 35,7% (tăng 1,2% so với năm 2014 và tăng 5,2% so với năm 2010).

- Tỷ lệ phủ kín quy hoạch: Quy hoạch chung đạt 100%, (tăng 7% so với năm 2010), quy hoạch phân khu đạt 72% (tăng 2% so với năm 2014; tăng 27% so với năm 2010), quy hoạch chi tiết 1/500 đạt khoảng 33% (tăng khoảng 3% so với năm 2014, tăng 13% so với năm 2010), quy hoạch xây dựng nông thôn đạt 98,2% (tăng 3,3% so với năm 2014; tăng 71,8% so với năm 2010); - Tổng sản lượng xi măng, clinker tiêu thụ: ước đạt khoảng 72,7 triệu tấn, đạt 101% kế hoạch năm (tăng 3% so với năm 2014, tăng 43,4% so với năm 2010); trong đó, tiêu thụ 4 nội địa khoảng 56,5 triệu tấn (tăng 11,1% so với 2014), xuất khẩu khoảng 16,3 triệu tấn (giảm 17,3% so với 2014) Ngành xây dựng đã huy động mọi nguồn vốn cho việc đầu tư phát triển các khu đô thị mới nhằm tạo bước đột phá trong việc giải quyết nhu cầu bức xúc về nhà ở cho nhân dân đô thị. Số lượng các dự án nhà ở đô thị tăng nhanh với hơn 1500 dự án được triển khai, Hiện cả nước có khoảng hơn 890 triệu m2 nhà ở trong đó đô thị có khoảng 260 triệu m2, bình quân mỗi năm tăng thêm 58 triệu m2 trong những năm gần đây. Công nghiệp vật liệu xây dựng cũng đang hướng mạnh tới sản xuất các sản phẩm có chất lượng và hàm lượng khoa học công nghệ cao thay thế các sản phẩm nhập khẩu và tăng xuất khẩu. Tốc độ tăng trưởng của ngành vật liệu xây dựng đạt 17%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của các ngành công nghiệp trên cả nước.

Nhiều sản phẩm có chất lượng cao như xi măng, gạch ceramic, granit nhân tạo, sứ vệ sinh, kính xây dựng đã phần lớn chiếm lĩnh thị trường xây dựng trong nước và được xuất khẩu tới hơn 100 nước trên thế giới. Bằng nỗ lực tiếp cận công nghệ mới và nâng cao chất lượn nguồn nhân lực, các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam đã tự đảm đương hoặc nhận thầu hầu hết các công trình quan trọng của quốc gia, nhiều công trình của các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài. Có thể kể đến các công trình lớn như thủy điện Sơn La, nhà máy lọc dàu Dung Quất, dự án nhiệt điện Cà Mau, thủy điện Buôn Lốp, cầu Thủ Thiêm. Cùng với đó là việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng ban hành các văn bản pháp luật trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngành.

Trong những năm gần đây Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng chính phủ đã thông qua hàng loạt những Luật , Nghị định, Nghị quyết, Thông tư liên quan đến các vấn đề liên quan đến ngành xây dựng như: Luật xây dựng năm 2014, Luật đấu thầu 2013, Luật đất đai 2013, Nghị định số 32/2015/NĐ-CP về quản lí chi phí đầu tư xây dựng, Thông tư số 01/2015/TT- BXD về hướng dẫn xây dựng đơn giá trong quản lí chi phí đầu tư xây dựng. Các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách được ban hành với những quan điểm, tư tưởng đổi mới đột phá, được các cơ quan nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp, người 5 dân và xã hội đồng tình, ủng hộ và đánh giá cao, từng bước đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng, góp phần tích cực nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước các lĩnh vực thuộc ngành xây dựng.2 Khái quát về xây dựng công trình thủy lợi. Thủy lợi là một thuật ngữ, tên gọi truyền thống của việc nghiên cứu khoa học công nghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. Ngoài ra, thủy lợi còn có tác dụng chống lại sự cố kết đất.

Thủy lợi thường được nghiên cứu cùng với hệ thống tiêu thoát nước, hệ thống này có thể là tự nhiên hay nhân tạo để thoát nước mặt hoặc nước dưới đất của một khu vực cụ thể. Công trình thủy lợi là các công trình được xây dựng cho các mục đích sử dụng nguồn nước, phòng chống thủy tai. Đặc điểm để phân biệt công trình thủy lợi và các công trình xây dựng khác là chịu sự tác động trực tiếp của nước dưới các hình thức khác nhau ( tác động cơ học và các tác động hóa lí sinh học ). Các điều tra khảo cổ học đã xác định có công trình thủy lợi ở Lưỡng Hà và Ai Cập vào khoảng thiên niên kỷ 6 TCN, lúa mạch được trồng ở các khu vực có lượng mưa không đủ để cung cấp cho nó.

Ở thung lũng Zana thuộc dãy núi Andes ở Peru, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu vết của 3 con kênh, và theo định tuổi cacbon phóng xạ nó được xây dựng từ thiên niên kỷ 4 TCN, thiên niên kỷ 3 TCN và thế kỷ 9. Các con kênh này là kỷ lục về thủy lợi đầu tiên tại Tân Thế giới. Các dấu vết của một con kênh có thể có tuổi từ thiên niên kỷ 5 TCN được tìm thấy bên dưới con kênh có tuổi vào thiên niên kỷ 4 TC. Hệ thống chứa nước và thủy lợi tinh vi được phát triển bởi nền văn minh thung lũng Indus ở Pakistan và bắc Ấn Độ, bao gồm các bể chứa ở Girnar vào năm 3.000 TCN và một kênh có tuổi cổ hơn vào năm 2600 TCN.

Hoạt động nông nghiệp với quy mô lớn làm cho nhu cầu mở rộng hệ thống kênh đào cho mục đích tưới tiêu. Có dấu hiệu cho thấy vào thời pharaon Amenemhat III nhà thứ 12 (khoảng 1800 TCN), người Ai Cập cổ đại đã sử dụng các hồ tự nhiên của ốc đảo Faiyum làm hồ 6 chứa để cung cấp nước trong mùa khô, vì nước hồ này dâng lên trong mùa lũ hàng năm của sông Nin. Các công trình thủy lợi được xây dựng ở Ba Tư cổ đại vào khoảng năm 800 TCN, là một trong số những phương pháp thủy lợi cổ nhất từng được biết đến mà ngày nay vẫn còn sử dụng. Ngày nay chúng được tìm thấy ở châu Á, Trung Đông và Bắc Phi.

Hệ thống nào bao gồm mạng lưới giống như giếng đứng và các ống dẫn hơi nghiêng hướng vào mặt của các vách đá và các đồi dốc để khai thác nước ngầm. Noria, một guồng nước được gắn các bình bằng đất sét xung quanh được vận hành bởi năng lượng của dòng nước, lần đầu tiên được đưa vào sử dụng trong thời gian này bởi những người La Mã đến định cư ở Bắc Phi. Vào năm 150 TCN, các bình được lắp các van cho phép nước chảy vào êm hơn khi chúng chịu tác động của lực nước. Các công trình thủy lợi của Sri Lanka cổ đại sớm nhất được định tuổi vào khoảng 300 TCN vào thời vua Pandukabhaya và tiếp tục phát triển liên tục đến 1000 năm sau đó, là một trong những hệ thống thủy lợi phức tạp nhất trong thế giới cổ đại.

Người Sinhal là những người đầu tiên xây các bể chứa để trữ nước. Do những ưu thế về kỹ thuật của họ trong lĩnh vực này, họ thường được gọi là 'bậc thầy về thủy lợi'. Hầu hết các hệ thống thủy lợi này vẫn tồn tại mà không bị phá hủy cho đến ngày nay ở Anuradhapura và Polonnaruwa do những kỹ thuật tiên tiến và chính xác của họ. Hệ thống này đã được hồi phục rộng rãi và mở rộng vào thời vua Parakrama Bahu (1153 – 1186 TCN).

Các kỹ sư thủy lực đầu tiên của Trung Quốc là Tôn Thúc Ngao (thế kỷ 6 TCN) vào thời Xuân Thu và Tây Môn Báo (thế kỷ 5 TCN) vào thời Chiến Quốc, cả hai đã xây dựng các dự án thủy lợi lớn. Ở vùng Tứ Xuyên thuộc nước Tần, hệ thống thủy lợi Đô Giang Yển được xây dựng vào năm 256 TCN để tưới cho một vùng nông nghiệp rộng lớn mà ngày nay vẫn còn được sử dụng để cung cấp nước. Vào thế kỷ 2, dưới thời nhà Hán, người Trung Quốc cũng sử dụng bơm chuyền để đưa nước từ thấp lên cao. Chúng được vận hành bởi bàn chân có bàn đạp với các guồng nước hoặc bằng sức kéo của trâu, bò.

Nước được dùng cho các công trình công cộng cung cấp nước cho các khu dân cư đô thị và các khu vườn của cung điện, nhưng hầu hết được dẫn vào các kênh thủy lợi để tưới cho các cánh đồng. 7 Máy đo mưa đầu tiên trên thế giới ở Triều Tiên là uryanggye (tiếng Triều Tiên:우량계), được phát hiện vào năm 1441. Người phát minh là Jang Yeong-sil, một kỹ sư Triều Tiên vào thời nhà Triều Tiên, theo chỉ vụ của vua Thế Tông. Nó được lắp đặt trong các bồn chứa như là một phần của hệ thống thủy lợi trên toàn quốc để đo và thu thập lượng mưa phục vụ cho nông nghiệp.

Với công cụ này, các nhà quy hoạch và nông dân có thể có được nhiều thông tin hơn trong công việc của mình. Qua thời gian, các hệ thống công trình thủy lợi ngày càng được phát triển cả về quy mô lẫn độ tinh vi, thậm chí nhiều công trình tồn tại qua nhiều thế kỷ mà đến nay vẫn còn giá trị sử dụng. Tiêu biểu có thể kể đến : + Công trình thủy lợi Đô Giang Yển tại Trung Quốc, công trình này được xây dựng vào năm 256 TCN để tưới cho một vùng nông nghiệp rộng lớn mà đến nay vẫn còn được sử dụng để cấp nước tưới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ứng dụng mô hình JIT trong quản lý thi công công trình thủy lợi hiệu quả" trình bày về việc áp dụng mô hình Just-In-Time (JIT) trong quản lý thi công các công trình thủy lợi, nhằm tối ưu hóa quy trình thi công, giảm thiểu lãng phí và nâng cao hiệu quả công việc. Mô hình JIT giúp các nhà quản lý dự án có thể điều phối nguồn lực một cách linh hoạt, từ đó cải thiện thời gian hoàn thành và chất lượng công trình. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng mô hình này, bao gồm việc tiết kiệm chi phí và nâng cao năng suất lao động.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý dự án xây dựng, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý xây dựng hoàn thiện công tác quản lý dự án tại ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố Phan Thiết, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý dự án tại một địa phương cụ thể. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành quản lý xây dựng hoàn thiện năng lực thẩm tra thiết kế công trình thủy lợi tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Ninh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình thẩm tra thiết kế trong lĩnh vực thủy lợi. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kỹ thuật xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi phí dự án tại các công trình xây dựng dân dụng trên địa bàn huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh sẽ cung cấp những giải pháp cụ thể để quản lý chi phí hiệu quả hơn trong các dự án xây dựng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quản lý thi công và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả dự án.